Nghể bông

Tên tiếng Việt: Nghể bông, Nghể bà, nghể hoa trắng, nghể đông

Tên khoa học: Polygonum orientale L.

Họ: Rau răm (Polygonaceae).

Công dụng: chữa Cảm sốt, đau bụng, hậu sản, thấp khớp, đau đầu, lỵ, trẻ em cam tích; bụng trướng, xơ gan cổ trướng, sưng lách, lao hạch (cả cây).

 

1. Mô tả

  • Cây thảo, sống hàng năm, có lông tơ mềm. Thân hình trụ, cành tỏa rộng.
  • Lá mọc so le, hình bầu dục – thuôn, dài 30 – 35cm, gốc tròn hay hơi hình tim, phiến hơi men theo cuống lá, đầu nhọn; bẹ chìa có lông, sớm rụng; cuống lá dài 2-8 cm.
  • Cụm hoa mọc ở ngọn thành bông dài, ngắt quãng ở phía dưới; lá bắc có lông dày; hoa 2 – 3 cái ở một mấu, bao hoa màu trắng; nhị 8.
  • Quả hình thấu kính, hơi tròn, tù ở gốc, đầu có mỏ ngắn, nhẵn bóng.
  • Mùa hoa quả: tháng 6-7.
Có thể bạn quan tâm:  Ô Đầu Việt Nam

2.  Phân bố, sinh thái

Nghể bông phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Á, gồm Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan, Lào và Nam Trung Quốc. Ở Việt Nam, nghể bông mọc rải rác ở hầu hết các tỉnh, từ vùng núi có độ cao khoảng 600m đến trung du và đồng bằng. Cây ưa sáng; và thường mọc trên các ruộng nước, nơi nước nông ven bờ sông suối và ao hồ. Nghể bông phân nhánh nhiều, hoa thường mọc ra ở đầu cành trên tất cả các nhánh, nhân giống tự nhiên chủ yếu từ hạt. Trong thời kỳ sinh trưởng mạnh, nếu bị cắt, cây vẫn có khả năng tái sinh.

3. Bộ phận dùng

Toàn cây và quả.

4. Thành phần hóa học

Quả nghể bông chứa các flavonoid quercetin, taxifolin (CA. 114, 1991, 3481 r), orientosid tương tự như vitextin và orientin như luteolin (CA. 1960, 54, 5010 f).   Các flavonoid khác như digicitrin, 5, 3′ dihydroxy 3. 8. 4. 5 titramethoxy 6, 7 methylendioxy ílavon; exotidin; 3′ hydroxy 3, 5, 6, 7, 8. 4′, 5′ hepta methoxy flavon, 3′ hydroxy 3. 5. 8. 4′. 5′ pentamethoxy 6, 7, methylenedi hydroxy flavon, isoorientin, 3. 5. 8. 3′ tetramethoxy 6, 7, 4’, 5′ bismethylendioxy flavon (Wiley – The handbook of Natural Flavonoid vol I, 1999).

Có thể bạn quan tâm:  Hươu nai

5. Tác dụng dược lý

  • Tác dụng trên hệ tim mạch: Dịch chiết toàn cây nghể bông, tỷ lệ 2g/ml, dùng 0,2ml trên chế phẩm tim cô lập chuột lang, có tác dụng làm giãn động mạch vành. Tiêm phúc mạc cho chuột nhắt trắng dịch chiết toàn cây nghể bông với liều tính theo dược liệu khô là 20 – 40 g/kg, có tác dụng làm tăng lưu lượng máu dinh dưỡng cho cơ tim. Trong thí nghiệm cho chuột nhắt trắng trong môi trường không có oxy, dịch chiết nghể bông có tác dụng kéo dài thời gian sống của chuột; tức là làm giảm sự tiêu hao oxy. Những thí nghiệm trên chứng tỏ nghể bông có tác dụng chống lại thiếu máu cơ tim cấp. Thí nghiệm trên tim ếch tại chỗ và cô lập, dịch chiết nghể bông lúc đầu ức chế, làm giảm nhịp tim, sau đó làm tăng sức co bóp. Tiêm dịch chiết nghể bông cho chuột cống trắng thấy có tác dụng làm giãn mạch máu ngoại vi ở chân sau chuột.
  • Tác dụng lợi tiểu: Nước sắc quả nghể bông cho chuột cống trắng uống với liều tính ra quả khô là 10g/kg làm tăng lượng nước tiểu bài xuất ra. Cơ chế tác dụng lợi tiểu là do tính chất thẩm thấu hoặc thuốc ức chế tái hấp thu nước ở ống lượn xa.
  • Tác dụng chống co thắt khí phế quản: Thí nghiệm trên chuột lang cho thấy dịch chiết toàn cây nghể bông có tác dụng đối kháng với co thắt khí phế quản do histamin gây ra. Sau khi dùng nghể bông mà dùng histamin thì sự co thắt khí phế quản giảm đi rõ rệt.
  • Tác dụng trên tế bào ung thư: Dịch chiết từ quả nghể bông cho chuột nhắt trắng uống trong 10 ngày liên tiếp kể từ khi gây u bằng thực nghiệm bằng tế bào sarcoma – 180, có tác dụng ức chế rõ rệt so với lô đối chứng không dùng thuốc.
Có thể bạn quan tâm:  Cây sữa

6. Tính vị, công năng

Hạt nghể bông có vị nhạt, tính mát, hơi lạnh có tác dụng hoạt huyết, tiêu tích, lợi niệu, giải độc, làm sáng mắt. Toàn cây có vị cay, ôn, có ít độc, có tác dụng khu phong, lợi thấp, hoạt huyết, chỉ thống, thanh nhiệt, tiêu viêm. Hoa cũng có tác dụng hoạt huyết, tiêu tích. Rễ cây vị cay, có độc, chỉ được dùng ngoài.

7. Công dụng

Toàn cây nghể bông được dùng chữa thấp khớp, đầu gối sưng đau, bệnh về mắt. Ngày 20 ~ 30g sắc uống. Dùng ngoài cây tươi nấu nước rửa hoặc giã nát đắp chữa lở ngứa, mày đay, nhọt độc, côn trùng đốt.

Quả chữa đau bụng, đau dạ dày, táo bón, khó tiêu, chướng bụng, xơ gan cổ trướng, mắt phát hỏa, mụn nhọt, tràng nhạc, áp xe. Ngày 6 – 9g, hoặc hơn dưới dạng bột, sắc uống hoặc ngâm rượu. Rễ được dùng nấu nước, ngâm rửa chữa sưng chân, cước khí, tê thấp, lở ngứa.

Có thể bạn quan tâm:  Hồng bì

Lá và đọt non có vị chua, được dùng làm rau ăn.

8. Bài thuốc có nghể bông

  1. Chữa viêm gan, xơ gan cổ trướng: Quả nghể bông 15g, đại phúc bì (vỏ ngoài và vỏ giữa của quả cau hoặc quả cau bỏ hạt) 12g, hắc sửu (hạt đen của cây bìm bìm) 9g, sắc uống.
  2. Chữa tràng nhạc, ung nhọt, áp xe: Quả nghể bông, ngưu tất, trạch lan, mỗi vị 9g, sắc uống.
  3. Chữa mắt kém, cải thiện thị giác, làm sáng mắt: Quả nghể bông, hoàng cầm, mỗi vị 9g; cúc hoa 12g, sắc uống.
  4. Chữa thấp khớp, lưng gối đau mỏi: Toàn cây nghể bông 30g, cóc mẳn 15g, sắc uống.

*Nguồn : cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam