Ngải máu

Tên tiếng Việt: Ngải máu, Cẩm địa la, Tam thất nam, Thiền liền tròn

Tên khoa học: Kaempferia rotunda L.

Họ: Zingiberaceae

Công dụng: Bế kinh, đau bụng, cầm máu, lành vết thương, đau dạ dày, đại tiện ra máu, ngộ độc, đau xương (Thân rễ).

 

A. Mô tả: 

  • Cây thảo cao 30-40cm, có nhiều củ to, hình trứng không đều; rễ con hình sợi ngắn kết thúc bằng một củ hình trứng.
  • Lá xuất hiện sau khi cây ra hoa, thành búi 2-5 lá có bẹ ở gốc, thuôn nhọn ở hai đầu, mặt trên loang lổ những vết màu đỏ tía sẫm, mặt dưới có ít lông mềm; cuống có lá bẹ, màu tía.
  • Cụm hoa mọc trước các lá, không cuống, có 6-8 hoa mang mỗi cái 2 lá bắc; tràng hoa có ống dài và hẹp có phiến ngoài chia làm 3 đoạn không bằng nhau, mà 2 trong 3 cái đó hình ngọn giáo nhọn, màu trắng, mép có vạch đỏ, và đoạn thứ ba màu tím nằm ở dưới, rũ xuống và chia làm hai thuỳ hình giáo rộng nhọn.
  • Mùa hoa quả: tháng 4-5.
Có thể bạn quan tâm:  Một lá

B. Bộ phận dùng

Thân rễ.

C. Nơi sống và thu hái

  • Phân bố chủ yếu ở Ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Malaixia, Inđônêxia và Việt Nam.
  • Ở nước ta, cây mọc hoang ở vùng núi và cũng được trồng khắp nơi vì hoa đẹp và có mùi thơm dịu. Thu hái củ vào mùa đông- xuân, rửa sạch, thái phiến phơi khô.
  • Cây ưa ẩm và hơi chịu bóng, thường được trồng xen vào vườn cây ăn quả. Thân rễ ngải máu có khả năng đẻ nhánh nhiều, đó chính là những ”củ con” được dùng làm thuốc hay giống để trồng.

D. Thành phần hóa học

 Thân rễ chứa tinh dầu.

E. Tính vị, tác dụng

Ngải máu có vị cay nồng, đắng, hơi hăng, mùi thơm mạnh, tính bình, có tác dụng bổ huyết, điều kinh, cầm máu, giảm đau, giải độc.

F. Công dụng, chỉ định và phối hợp

  • Củ, lá non dùng ăn được. Ở Java, lá non và củ cũng được dùng làm gia vị.
  • Người ta dùng củ làm thuốc chữa kinh bế đau bụng, và hành kinh loạn kỳ, người gầy sạm, máu xấu, kinh ít.
  • Dùng chữa đau dạ dày, đại tiện ra máu, sơn lam chướng khí, lở láy, ngộ các loại độc, đau xương và nhất là đau bụng.
  • Ở Ấn Độ, người ta dùng cây lá làm thuốc đắp các vết thương. Rễ củ được dùng làm thuốc lợi tiêu hoá, dùng đắp tiêu sưng viêm và làm bột đắp gây mưng mủ.
  • Ở Trung Quốc, cả cây dùng trị đòn ngã tổn thương.
  • Củ còn dùng làm thuốc lợi tiêu hoá, dùng đắp ngoài trị bệnh quai bị.
  • Do củ thơm nên người ta dùng chế mỹ phẩm.
  • Liều dùng 6-13g, dạng thuốc sắc, hoặc dùng 4-8g bột uống với nước cơm. Người ta cũng dùng rễ củ nghiền sống với rượu.
Có thể bạn quan tâm:  Bầu đất

G. Bài thuốc có ngải máu 

Chữa đau bụng lăm răm, đầy hơi, khó tiêu, sốt rét:ngải máu, hậu phác nam, trần bì, bán hạ chế, nghệ đen, chỉ xác, rẻ quạt, hạt cau, vỏ rụt, mỗi vị 12g, thảo quả 6g, sắc uống.