Lô hội

Tên tiếng Việt: Lô hội, Hổ thiệt, Lưỡi hổ, Long tu, Tượng đởm, Lủ hội, Nha đảm

Tên khoa học: Aloe vera L.

Họ: Asphodelaceae

Công dụng: Lương can, nhuận tràng, lợi mật, nhuận gan, sát khuẩn, thông tiểu, thanh nhiệt, trẻ em cam tích, kinh giản, táo bón, ăn uống khó tiêu, tẩy (Nhựa nấu cao uống).

 

A. Mô tả cây

  • Lô hội có nhiều loài khác nhau, ở đây chúng tôi chỉ giới thiệu một loài có ở nước ta và một số loài thông dụng.
  • Lô hội- Aloe vera L. var. sinensis Berger (Aloe perfoliata Lour. (non L.), Aloe barbadensis Haw) là một cây có thân hoá gỗ, ngắn, to thô. Lá không cuống, mọc thành vành rất sít nhau, dày mẫm, hình 3 cạnh, mép dầy, mép có răng cưa thô cứng và thưa dài 30-50cm, rộng 5- 10cm, dày 1-2cm, ở phía cuống. Cụm hoa dài chừng 1m, mọc thành chùm dài mang hoa màu vàng xanh lục nhạt lúc đầu mọc đứng, sau rũ xuống, dài 3-4cm. Quả nang, hình trứng thuôn, lúc đầu xanh sau nâu và dai.
  • Tại miền Bắc có trồng một loài lô hội trước đây được xác định là Aloe perfoliata L. chủ yếu để làm cảnh, có lá ngắn hơn chỉ đo được chừng 15- 20cm, chưa thấy ra hoa kết quả .
  • Tại các nước khác người ta dùng nhựa nhiều cây lô hội khác như Aloe vulgaris Lamk., Aloe fcrox L., Aloe perryi Bak. v.v…cho nhiều thứ lô hội chất lượng khác nhau
Có thể bạn quan tâm:  Thồm lồm gai

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Lô hội dùng ở nước ta (cả đông y và tây y) chủ yếu là nhập của nước ngoài. Mặc dù nhập qua Pháp hay Trung Quốc cũng do một số nước sau đây:

  • Loài Aloe vulgaris Lamk, ở bắc châu Phi, cực nam châu Á, Ấn Độ, cho lô hội ẤnĐộ. Tên trên thị trường quốc tế là Aloe des barbades. Aloe Curacao (Aloe des Inas.)
  • Loài Aloe ferox L. và những loại lai của nó với các loài Aloe africana Mill., Aloespicata Thunb., Aloe perfoliata L. cho vị lô hội với tên Aloe du Cap.
  • Loài Aloe perry I Bak. cho vi Aloe socotrin hay succotrin. Trong đông y rất chú ýphân biệt.
  • Tóm lại địa lý chủ yếu của lô hội là đông châu Phi (từ nam chí bắc đều có), Ấn Độ, Châu Mỹ.
  • Tại nước ta, cây lô hội mọc hoang ở bờ biển những tỉnh Ninh Thuận (Phan Rang,Phan Ri) và Bình Thuận, ở miền Bắc được trồng làm cảnh nhưng ít hơn.
Có thể bạn quan tâm:  Nước bọt

Muốn chế lô hội, người ta làm theo một trong những phương pháp sau đây:

  1. Phương pháp áp dụng ở nam châu Phi: Cắt lá xếp chành đống, cao 1m, ở miệng hố đào dưới đất, dưới có lót da dê hay da ngựa, lá xếp càng lên trên càng vươn ra để nhựa chảy vào hố. Khi nhựa đã chảy hết, thì bỏ lá đi, lấy nhựa cô đặc trong nồi đồng.Khi cô rất vất vả vì mùi và khói rất hắc khó chịu. Đun quá thì bị cháy, đun chưa đủ thì lô hội bị mềm, cho nên người ta thường tập trung vào một xưởng riêng để cô đặc.
  2. Phương pháp ở Curacao và cũng là phương pháp áp dụng ở miền nam Trung Bộ nước ta: cắt lá, xếp thành hình chữ V vào trong hố, đầu cắt quay xuống dưới, nhựa chảy xuống tự nhiên, không cần phải ép. Cô đặc trong nồi đồng.
  3. Phương pháp khác:
  • Cắt nhỏ lá, giã và ép. Để lắng 24 giờ. Gạn, nước thu được đêm cô ở ngoài nắng hoặc đun cho đặc. Phương pháp này cho loại lô hội không được tốt lắm vì lẫn nhiều tạp chất. Có thề ngâm lá đã giã nhỏ với nước, lọc lấy nước. Đun bã với một số nước nữa, trộn chỗ nước sau với nước trước, cô đặc lại.
  • Có thể đem thái lá nhỏ, cho vào rổ bằng dây thép, nhúng 10 phút vào thùng nước sôi. Lại làm thế với lượt lá mới cho đến khi có một thứ nước đen đặc thì đem gạn và cô đặc.Do phương pháp chế tạo khác nhau, cho nên lô hội chế được cũng có hình thức khác nhau.
  • Trước đây theo các tài liệu cũ tại các vùng Bình Thuận, Phan Rang, Phan Ri ta sản xuất hằng năm chừng 500-600kg lô hội, một phần dùng trong nước, một phần xuất sang Trung Quốc.
Có thể bạn quan tâm:  Rau đắng biển

C. Thành phần hoá học

Tuỳ theo nguồn gốc, lô hội có thành phần hoá học khác nhau, nhưng căn bản có những chất sau đây:

  1. Tinh dầu màu vàng, độ sôi 2660-271 cho lô hội mùi đặc biệt. Ít quan trọng về mặt tác dụng dược lý.
  2. Nhựa 12-13%: Có tác giả cho rằng nhựa này không có tác dụng tẩy, nhưng cũng có tác giả cho rằng có tác dụng tẩy.
  3. Hoạt chất chủ yếu là chất aloin. Aloin không phải là một chất thuần nhất mà là gồm những antraglucozit có tinh thể, vị đắng có tác dụng tẩy. Tỷ lệ aloin thay đổi tuỳ theo nguồn gốc lô hội.

Thông thường tỷ lệ đó là 16-20%. Perrier có định lượng aloin trong lô hội Việt Nam thì thấy tỷ lệ này lên tới 26%. Tuy nhiên cũng có tác giả không cho aloin là hoạt chất tẩy mạnh nhất, vì nhiều loại lô hội có cùng một lượng aloin mà lại có tác dụng tẩy khác nhau. Bên cạnh aloin có tinh thể, còn có những chất không có tinh thể và alocemođin tự do.
Tuỳ theo nguồn gốc lô hội, aloin mang tên khác nhau và có cấu tạo hơi khác nhau. Vídụ trong lô hội vùng nam châu Phi (Aloe des barbades) thì aloin gọi là bacbaloin. Bacbaloin thuỷ phân sẽ cho d.arabinoza và aloe.emodin-anthrano. Ngoài ra còn có iso.bacbaloin và pbacbaloin

Có thể bạn quan tâm:  Ngô

D. Tác dụng dược lý

Nhựa khô của lá lô hội có tác dụng:

  • Liều nhỏ (0,05-0,1g): lô hội là một vị thuốc bổ, giúp sự tiêu hoá, vì nó kích thích nhẹ niêm mạc một và không cho cặn bã ở lâu trong ruột.
  • Liều cao: nó là một vị thuốc tẩy mạnh, nhưng tác dụng chậm, gây sự sung huyết ở các cơ quan bụng, nhất là ở ruột già. Nó gây sung huyết, do đó không dùng cho người lòi dom và có thai. Tuỳ theo liều dùng, có thể gây độ tẩy cần thiết. Có tác dụng sau 10-15 giờ, phân mềm nhão, không lỏng. Có khi hơi đau bụng.
  • Người ta còn cho nó có tác dụng thông mật (cholagogue). Sự có mặt của mật rất cần thiết cho tác dụng của lô hội, do đó lô hội tác dụng chậm.. Muốn tác dụng mau hơn,nhiều khi người ta dùng phối hợp với mật bò.
  • Dùng liều quá cao (8g) có thể ngộ độc chết người (phân nhiều, yếu toàn thân, mạch chậm, nhiệt độ xuống).
  • Thuốc gel lô hội: Là gel nhầy thu được từ tế bào nhu mô lá tươi cây lô hội, thuốc gel có tác dụng làm lành vết thương và chống viêm.
Có thể bạn quan tâm:  Nhàu nước

E. Công dụng và liều dùng

  • Lô hội là một vị thuốc được dùng cả trong đông y và tây y.
  • Theo tài liệu cổ lô hội vị đắng tính hàn, vào 4 kinh can, tỳ, vị và đại tràng. Có tác dụng sát trùng, thông tiện, thanh nhiệt, lương can. Dùng chữa trẻ con cam tích, kinh giản, táo bón. Người tỳ vị hư nhược, sinh tả và phụ nữ có thai không dùng được.
  • Hiện nay với liều nhỏ dùng giúp sự tiêu hoá, ăn uống không tiêu.
  • Với liều lớn dùng làm thuốc chữa những bệnh nhức đầu khó chữa, sung huyết phổi,sung huyết các phủ tạng.
  • Còn dùng làm thuốc tẩy hay nhuận tràng. Nên dùng sau bữa ăn tác dụng sẽ dịu và mau hơn.Không dùng được cho trẻ con, phụ nữ có thai lòi dom.

Liều dùng hàng ngày:

  • Giúp sự tiêu hoá 1 g.
  • Tẩy: 0,15-2g. Dưới dạng thuốc viên hay dịch.
Có thể bạn quan tâm:  Đỉa

Trong năm 1997, công nghệ nước giải khát Việt Nam đã sản xuất nước giải khát lô hội, doanh đã đạt 600 triệu đồng.

Đơn thuốc có lô hội

Viên nhuận tràng (xí nghiệp dược phẩm): 1 lô hội 0.08g, cao mật bò tinh chế 0,01, phenoltalein 0,05g, bột cam thảo 0,05g, tá dược vừa đủ một viên. Dùng chữa táo bón,khó tiêu thiếu nước mật, vàng da, yếu gan, yếu ruột. Ngày uống 1-2 viên vào bữa cơm chiều. Có thể dùng liều cao hơn. Trẻ em dưới 15 tuổi không dùng được

Chú thích:

Theo A. Pételot, tại Quảng Bình, Quảng Thừa Thiên có một loài Aloe sp. có lẽ là A. maculata Forsk. (tên này được ghi trong danh mục những cây của Vườn bách thảo Sài Gòn). Tại Huế người ta gọi cây này là long thủ (tay rồng), Quảng Trị gọi là lưu hội. Nhân dân thường dùng 2-3 lá này bóc vỏ cứng ngoài, cắt thành từng miếng nhỏ ăn tươi với đường hoặc nấu đường, hoặc ăn như rau sống để cho mát và chữa kinh nguyệt không đều.

Có thể bạn quan tâm:  Huyết giác