Lanh

Tên tiếng Việt: Lanh

Tên khoa học: Linum usitatissimum L.

Họ: Linaceae

Công dụng: Đau mắt, ho, hen suyễn, cảm lạnh, cầm máu, chữa băng huyết, phong hủi, đau dạ dày (Hạt).

 

1. Mô tả

  • Cây thảo, sống hàng năm, cao 30 – 60cm. Thân mọc thẳng, nhẵn.
  • Lá mọc so le, không cuống, hình mác, gốc tròn, đầu thuôn nhọn, gân ở gốc lồi rõ. Cụm hoa mọc ở ngọn thân và đầu cành thành xim ít hoa; hoa đều, lưỡng tính, màu xanh lục, màu 5; nhị 10 hơi dính liền ở gốc, 5 nhị sinh sản ở trước các lá đài, ngăn cách bởi những lưỡi nhỏ tương ứng với các nhị không sinh sản ở trước các cánh hoa; bầu 5 ô, mỗi ô 2 noãn, trong mỗi ô lại xuất hiện một vách giả giữa 2 noãn làm cho bầu trở thành 10 ô.
  • Quả nang mang đài tồn tại; hạt dẹt, màu nâu bóng.
Có thể bạn quan tâm:  Cây mướp

2. Phân bố, sinh thái

Các loài thuộc chi Linum L. hầu hết là cây thảo sống một năm hoặc cây bụi nhỏ, phân bố ở một số vùng thuộc khu vực ôn đới ấm, cận nhiệt đới Bắc bán cầu. Một số loài được trồng làm cảnh như Linum bienne Mill. (L. angustifolium Huds.); L. grandiflrorum Desf. hoặc được trồng để lấy dầu hạt như L. usitatissimum L. (cây lanh). Lanh là loại cây trồng từ lâu đời, hiện chưa rõ nguồn gốc và cũng không thấy mọc hoang dại.

Trước chiến tranh Thế giới lần thứ hai, các nước Argentina, Liên Xô và Ấn Độ trồng nhiều nhất loại cây này; gần đây là Mỹ và Canada; một số nước ở xung quanh Địa Trung Hải cũng có trồng, nhưng ít hơn.

Lanh là loại cây ngắn ngày và mọc nhanh. Ở Ấn Độ, người ta thường gieo trồng lanh vào tháng 10-11 và thu hoạch hạt vào tháng 2-4. Cây ưa khí hậu ẩm mát, chịu được lạnh trong mùa đông, đến mùa xuân, khi nhiệt độ tăng lên từ 15 đến 20°C, cây sinh trưởng rất nhanh và ra hoa quả khá đều. Trải qua quá trình trồng trọt và du nhập khắp nơi, người ta đã tạo ra nhiều giống lanh thích hợp với các vùng trồng khác nhau. Tất cả những giống lanh này có đặc điểm chung là bộ rễ rất phát triển. Có thể chính đặc điểm này giúp cho cây qua được mùa đông lạnh, như ở vùng bắc Ấn Độ.

Có thể bạn quan tâm:  Bạch cương tằm

Trước đây, ngành nông nghiệp đã nhập hạt giống lanh về trồng ở Sa Pa (Lào Cai), nhưng nay không còn nữa.

3. Bộ phận dùng

Hạt và dầu từ hạt.

 4. Thành phần hóa học:

Các protein chính  trong hạt là globulin: linin và colinin

Lá, thân, rễ và hoa cũng có linamarin.

5. Tính vị, công năng

Hạt lanh có vị ngọt, tính bình, có tác dụng nhuận táo, khứ phong, lợi tiểu.

6. Công dụng

Hạt lanh được dùng làm thuốc chữa ngứa, phong hủi, đau đầu, tiểu tiện không thông.

Trong y học dân gian Ấn Độ, hạt lanh được coi là thuốc làm dịu, làm mềm da, long đờm, lợi tiểu và có tác dụng làm săn sau khi rang. Toàn bộ hạt có tác dụng nhuận tràng. Nước hãm nhầy hạt lanh, gọi là chè hạt lanh, dùng uống là thuốc làm dịu trong cảm, ho, viêm phế quản, viêm đường tiết niệu, bệnh lậu và tiêu chảy. Hạt lanh rang nghiền và tán bột, uống mỗi ngày 20 – 25g trộn với lượng đường tương đương, chia làm 3 lần, để trị lỵ. Hạt lanh giã nát đắp trị viêm tại chỗ, loét, làm mụn nhọt chóng mưng mủ và cũng có tác dụng với viêm phế quản, viêm ở chỗ sâu khác, viêm do gút và thấp khớp. Bôi dầu trước lên chỗ đắp hạt lanh giã nát để tránh thuốc đắp dính vào da.

Có thể bạn quan tâm:  Cây Tắc Kè Đá

Ở Achentina, nước hãm hạt lanh được dùng uống trị khó tiêu. Ở Italia, nước sắc hạt lanh là thuốc sát khuẩn, và dầu hạt lanh bôi xoa chữa trĩ. Ở châu Phi, nhân dân dùng hạt lanh trị ho, hen suyễn, viêm dạ dày, táo bón, sởi, chốc lở, áp xe. Có thể sắc nước uống hoặc nhai hạt và nuốt nước. Dùng ngoài, lấy hạt giã đắp hoặc nấu nước rửa. Ò Angiêri, người ta uống nước sắc hạt lanh làm thuốc nhuận tràng, chống hen, và dùng bột hạt lanh đắp ngoài trị áp xe.

*Nguồn: Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam