Khế

Tên tiếng Việt: Khế, Khế chua, Ngũ liễm, Co má phương (Thái), Mạy phường (Tày), Mộc lóc liằng (Dao)

Tên khoa học: Averrhoa carambola L.

Họ: Oxalidaceae

Công dụng: Chữa mụn, đái vàng, chó dại cắn, lợi tiểu, ho suyễn trẻ em (Rễ, lá). Dị ứng (Lá tươi vò xát). Thuốc bổ (Thân rễ sắc uống).

A. Mô tả cây

  • Khế là cây gỗ cao 4-6m. Lá mọc so le, kép lông chim, dìa lẻ, dài 11-17cm, lá chét gồm 3-5 đôi, nguyên, mềm, hình trứng nhọn, những lá chét ở phía trên lớn hơn đạt tới 8,5cm chiều dài, trên 3,5cm chiều rộng.
  • Hoa mọc thành chùm xim dài 3-7cm, ở kẽ lá, màu hồng hay tím nhạt. 5 nhị hữu thụ xen kẽ với 5 nhị thoái hóa. Lá noãn 5 họp thành một bầu thượng 5 ô, mỗi ô chứa 4 noãn.
  • Quả mọng có 5 cạnh, vị chua.

B. Thành phần hóa học

Trong vị khế có các chất đường, vitamin B 1, C 2, kali oxalat axit. Các chất khác chưa rõ

C. Công dụng và liều dùng

  • Theo tính chất của đông y, khế vị chua ngọt có tính sáp (sít) bình, không độc. Chủ trị phong, nhiệt (nóng sốt), sinh tân dịch, chỉ khát (chữa khát)
  • Trong nhân dân thường dùng lá khế giã nhỏ đắp lên những nơi bị lở sơn (sơn ăn). Có thể dùng quả giã lấy nước mà đắp lên. Còn dùng chữa mẩn ngứa, lở loét sưng đau do dị ứng. Qủa dùng lấy nước ép uống cho mát, chữa bệnh scobut. Tại Campuchia, người ta dùng rễ cây khế phối hợp với vỏ cây khleng pear hay khleny kraham (Bauhiniabassaceusis Pierre) và vỏ cây Lagerstrocmin floribunda với gạo (hái ở những cây mọc hoang) tất cả sắc với nước, cô đặc còn 1/3, thêm đường cho thật ngọt mà uống để chữa ngộ độc, đặc biệt ngộ độc do mã tiền. Quả còn dùng giặt những vết gỉ sắt trên quần áo do các chất kali oxalat axit.
  • Kinh nghiệm dùng lá khế trong nhân dân Chữa sơn lở, dị ứng, lở loét. Lá khế cả cành non và hoa 100-150g. Nấu sôi 15 phút với 5-6 lít nước, dùng xông và tắm. Lá đã nấu rồi dùng sát lên nơi lở loét. Thường chỉ điều trị 3-4 ngày là khỏi.
Có thể bạn quan tâm:  Rau đay