Kẹn

Tên tiếng Việt: Kẹn, Mác kẹn (Tày), Mã đẻ, Thất diệp thụ
Tên khoa học: Aesculus chinensis Bunge
Họ: Kẹn (Hippocastanaceae)
Công dụng: Vỏ thường được dùng trị bệnh lỵ, đau đầu và kích thích tiêu hoá. Hạt được dùng chữa ngực bụng oi bức, bụng dạ đau đớn. Hạt cũng được dùng để ép dầu; dầu này có thể dùng làm xà phòng cứng.

1. Mô tả:

Cây gỗ tới 25m, cành có nhiều lỗ bì, chồi có vẩy. Lá kép chân vịt, mọc đối, có cuống dài khoảng 25cm; lá chét 6-7, thuôn ngọn giáo nhọn, thót lại ở gốc; có mũi nhọn, hơi có răng, dài 9-16cm, rộng 3-5,5cm, dai, nhẵn. Hoa trắng, thành chuỳ dạng tháp mọc đứng hơi vượt quá lá. Quả nang 1-3 ô, mỗi ô một hạt không nội nhũ, rốn hạt rất rộng, vỏ hạt dai, lá mầm dày.

Hoa tháng 5-7, quả tháng 8-9.

Có thể bạn quan tâm:  Bán hạ nam

2. Bộ phận dùng:

Hạt – Semen Aesculi; thường gọi là Sa la tử. Vỏ giữa thân cây cũng được dùng.

3. Nơi sống và thu hái:

Phổ biến trong các chỗ ẩm ở chân núi đá vôi các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Thái, Hoà Bình, Thanh Hoá. Cũng được trồng làm cây cảnh. Còn phân bố ở Lào, Trung Quốc.

4. Thành phần hoá học:

Có chất dầu có màu và chua, có hàm lượng chất béo là 27-30%. Khô dầu chứa 36% tinh bột. Hạt còn chứa các saponozit triterpen làm cho nó chát và đắng; chất chính là aescin; còn có acid oleic.

5. Tính vị, tác dụng:

Hạt có vị ngọt, tính ấm, có tác dụng lý khí khoan trung, hòa vị chỉ thống. Vỏ có tác dụng sát trùng, an thần, giảm đau. Nhân dân thường dùng vỏ để duốc cá do thành phần sapoinin trong đó.

Có thể bạn quan tâm:  Ngựa

6. Công dụng:

Vỏ thường được dùng trị bệnh lỵ, đau đầu và kích thích tiêu hoá. Hạt được dùng chữa ngực bụng oi bức, bụng dạ đau đớn. Hạt cũng được dùng để ép dầu; dầu này có thể dùng làm xà phòng cứng.