Thảo dược

Huyết Khối Là Gì – Trang thông tin dược liệu cho mọi nhà

Huyết Khối Là Gì có phải là thông tin bạn đang quan tâm tìm hiểu? Website NhangThaoDuoc sẽ giới thiệu cho bạn những thông tin mới nhất chính xác nhất về Huyết Khối Là Gì trong bài viết này nhé!

Một số thông tin dưới đây về Huyết Khối Là Gì:

1. Huyết khối là gì?

Huyết khối là quá trình các tế bào máu tập trung đến các mạch máu bị rách và làm ngừng chảy máu khi bạn bị thương, ví dụ như bạn vô tình làm mình chảy máu, lúc này quá trình đông máu sẽ được kích hoạt. Các tiểu cầu được triệu tập đến vùng tổn thương để tạo ra nút chặn ban đầu.

Các yếu tố đông máu trong máu gây ra một phản ứng dây chuyền nhanh chóng, dẫn đến hình thành các sợi fibrin giữ các tiểu cầu với nhau. Nhiều tiểu cầu phóng thích các chất hóa học để thu hút các tiểu cầu khác tạo thành một cục máu đông bền hơn và ngăn chặn tình trạng chảy máu.

Các protein trong cơ thể giúp xác định thời điểm dừng lại quá trình tạo cục máu đông khi nó đủ lớn. Khi vết thương được chữa lành, các sợi sẽ tự hòa tan và những tiểu cầu quay trở lại mô máu bình thường.

2. Cơ chế hình thành huyết khối

Huyết khối hay cục máu đông được định nghĩa là một quá trình bệnh lý do sự phát động và lan rộng bất hợp lý của các phản ứng đông cầm máu trong cơ thể dẫn đến hình thành cục máu đông trong lòng mạch máu. Tuỳ theo kích thước của huyết khối, đường kính mạch máu mà huyết khối có thể gây tắc mạch hoàn toàn hay bán tắc hoặc nghẽn mạch…

Các giai đoạn hình thành huyết khối

Quá trình hình thành cục máu đông (huyết khối) chính là quá trình đông máu với trên 30 yếu tố tham gia vào quá trình này, trải qua các giai đoạn:

Có thể bạn quan tâm:  Thảo Mộc Điều Kinh Thanh Mộc Hương - Thảo mộc cho mọi nhà

2.1. Giai đoạn thành mạch

Khi mạch máu bị tổn thương, thành mạch co lại theo cơ chế phản xạ. Tiểu cầu đang di chuyển tự do trong lòng mạch sẽ tụ lại chỗ tổn thương hình thành một nút gọi là cục máu trắng hay đinh Hayem, các tiểu cầu sẽ bám dính lại với nhau và chế tiết ra một số yếu tố khởi động cho quá trình đông máu và đây được gọi là giai đoạn tự cầm máu.

2.2. Giai đoạn huyết tương

Giai đoạn này khá phức tạp. Trong các mạch máu với sự tham gia của rất nhiều các yếu tố; hình thành thromboplastin, hình thành thrombin tác động lên fibrinogen cuối cùng tạo nên các sợi tơ huyết (fibrin).

2.3. Giai đoạn huyết khối đông

Gồm giai đoạn co cục máu và tiêu cục máu đông. Sự tiêu cục máu đông nhờ khả năng phân hủy của men plasmin được điều hòa bởi một số chất kích thích và ức chế.

Phân loại huyết khối

Xét về cấu trúc, huyết khối thường có hai loại là huyết khối trắng và đỏ, cũng có thể gặp loại hỗn hợp. Huyết khối trắng hình thành khi tế bào nội mạc mạch máu bị tổn thương, tiểu cầu kết dính và ngưng tập, thành phần chủ yếu là tiểu cầu; thường gặp ở động mạch như mạch vành, mạch não,…

Huyết khối đỏ hình thành khi dòng máu chảy chậm với thành phần chính là sợi fibrin bao bọc hồng cầu, thường gặp ở tĩnh mạch.

Ngoài ra, huyết khối còn được phân thành huyết khối động mạch, tĩnh mạch và vi mạch.

Huyết khối động mạch có thành phần chủ yếu là tiểu cầu. Tổn thương thành mạch và sự tăng hoạt hóa tiểu cầu là yếu tố chính gây huyết khối. Thường gặp ở người bệnh tim mạch như tăng huyết áp, mỡ máu, đái tháo đường…

Xét về cấu trúc, huyết khối thường có hai loại là huyết khối trắng và đỏ

Chi tiết thông tin cho Huyết khối là gì và cơ chế hình thành…

1. Nguyên nhân hình thành và dấu hiệu cảnh báo huyết khối là gì?

1.1. Như thế nào được gọi là huyết khối?

Huyết khối chính là những cục máu đông ở mạch máu

Khi nhắc đến thuật ngữ cục máu đông thì nhiều người biết nhưng được hỏi về khái niệm huyết khối là gì thì có lẽ rất nhiều người lại không hiểu. Thực ra, huyết khối chính là cục máu đông dạng gel hình thành ở mạch máu. 

Cơ chế hình thành huyết khối diễn ra như sau: khi bị thương, huyết khối hình thành để tập trung máu đến các mạch máu bị vỡ, giúp quá trình chảy máu ngưng lại. Lúc này, tiểu cầu sẽ nhanh chóng có mặt ở vùng tổn thương để tạo ra nút chặn. 

Các yếu tố đông máu gây ra phản ứng dây chuyền, làm hình thành các sợi fibrin để tiểu cầu liên kết với nhau. Tiểu cầu phóng thích ra chất hóa học để thu hút các tiểu cầu khác hình thành huyết khối bền hơn và ngăn không cho quá trình chảy máu diễn ra nữa.

Khi huyết khối đủ lớn, các protein sẽ xác định thời điểm dừng lại của quá trình hình thành máu đông. Đến lúc vết thương được chữa lành thì các sợi sẽ tự hòa tan còn tiểu cầu sẽ quay về trạng thái bình thường.

Về cơ bản, quá trình hình thành huyết khối tương đối có lợi cho cơ thể vì nó giúp cơ thể không bị mất quá nhiều máu khi bị thương. Tuy nhiên, nếu xuất hiện ở một số vị trí đặc biệt và không có khả năng hòa tan, huyết khối có thể cản trở quá trình lưu thông máu, kết quả là sự xuất hiện của hàng loạt vấn đề nguy hiểm như: đột quỵ, nhồi máu cơ tim, thuyên tắc phổi,…

1.2. Nguyên nhân hình thành huyết khối là gì?

Các nguyên nhân hình thành huyết khối được xác định là:

– Xảy ra vết thương gây chảy máu làm cho cục máu đông xuất hiện để ngăn ngừa mất máu.

– Trong quá trình di chuyển của mình, nếu dòng máu gặp khó khăn hoặc trở nên trì trệ cũng làm máu đông xuất hiện.

Sự hình thành các mảng xơ vữa ở lòng mạch là một trong những nguyên nhân hình thành huyết khối

– Các mảng xơ vữa trong lòng mạch khi vỡ ra có thể hình thành huyết khối.

– Khi máu chảy không đúng cách làm cho tiểu cầu dính vào nhau tạo điều kiện cho cục máu đông xuất hiện.

– Huyết khối tĩnh mạch sâu và rung nhĩ làm cho máu di chuyển chậm trong tĩnh mạch. 

Bệnh huyết khối có thể ảnh hưởng tới bất kỳ ai, ở mọi độ tuổi. Tuy nhiên, người mắc bệnh mạch vành là đối tượng có nguy cơ cao bởi có sự hình thành của mảng xơ vữa trong lòng mạch. Ngoài ra, những yếu tố sau cũng làm tăng nguy cơ xuất hiện huyết khối:

– Sự gia tăng tuổi tác.

– Tiêu thụ quá nhiều độ ăn giàu chất béo.

– Thường xuyên hoặc hút quá nhiều thuốc lá.

– Mỗi ngày uống quá 3 – 4 chén rượu (nam giới) và 2 – 3 chén rượu (nữ giới).

– Bị béo phì hoặc thừa cân.

– Vận động quá ít.

– Bệnh tiểu đường.

– Bệnh cao huyết áp.

– Tăng Cholesterol trong máu.

1.3. Những dấu hiệu cho thấy huyết khối hình thành

Hầu hết chúng ta không biết được dấu hiệu hình thành huyết khối là gì nên không phát hiện bệnh từ sớm để có biện pháp ngăn chặn kịp thời, kết quả là phải đối mặt với nhiều vấn đề nguy hiểm cho sức khỏe. Nhìn chung, khi cơ thể có hiện tượng chảy máu, xung quanh vết thương sẽ có một vùng sưng nhỏ, có thể ngứa hoặc không và cảm giác đau. 

Nếu huyết khối hình thành trong tĩnh mạch, tại vùng đó sẽ có hiện tượng đau, tấy đỏ, sưng và đôi khi có cảm giác nóng ấm. Một số trường hợp có hiện tượng sưng ở vùng bị thương kèm theo có màu xanh đó chính là cục máu đông lớn. 

Các dấu hiệu của huyết khối khác nhau tùy thuộc vào vào vị trí mà nó hình thành, cụ thể là:

– Ở bụng: buồn nôn, đau bụng.

– Ở chân hoặc cánh tay: sưng, tấy đỏ, đau, chạm vào có cảm giác nóng ấm.

– Ở não: mất thị lực, lú lẫn, nói khó, mất cảm giác hoặc không di chuyển được ở một bên cơ thể và có thể kèm co giật. Tình trạng này là kết quả của việc máu không đến được não, nếu kích thước huyết khối lớn tới mức làm tắc nghẽn hoàn toàn mạch máu não nó sẽ dẫn đến tử vong.

– Ở phổi và tim: trường hợp xuất hiện huyết khối ở tim người bệnh có thể bị nhồi máu cơ tim với dấu hiệu ra mồ hôi, đau tức ngực, khó thở, có cơn đau lan xuống cánh tay. Nếu huyết khối ở phổi người bệnh sẽ bị ho ra máu, khó thở, đau ngực.

2. Điều trị huyết khối bằng cách nào?

Trước khi có quyết định về phương pháp điều trị huyết khối, người bệnh cần phải được chẩn đoán đúng bệnh. Vậy biện pháp chẩn đoán huyết khối là gì? Do đại đa số trường hợp bị huyết khối không có biểu hiện lâm sàng nên bác sĩ sẽ khai thác tiền sử các yếu tố nguy cơ. Nếu huyết khối gây tắc, tùy vào vị trí gây tắc mà nó sẽ gây ra các biểu hiện lâm sàng khác nhau, như:

Thăm khám bác sĩ chuyên khoa là cách duy nhất để biết được phương pháp điều trị huyết khối là gì

– Tâm phế cấp khi bị thuyên tắc động mạch phổi.

– Hội chứng động mạch vành cấp khi bị tắc động mạch vành.

– Có cơn đau cách hồi khi di chuyển với trường hợp tắc mạch chi.

Để hỗ trợ chẩn đoán và xác định vị trí tổn thương do huyết khối gây tắc mạch bác sĩ có thể sẽ cần thực hiện một số xét nghiệm nhất định kèm theo chẩn đoán hình ảnh như: chụp MRI, chụp CT, siêu âm,…

Biện pháp điều trị huyết khối không giống nhau ở tất cả bệnh nhân vì huyết khối có thể xảy ra bất cứ vị trí nào của cơ thể. Mặt khác, có rất nhiều nguyên nhân khiến cho huyết khối xuất hiện nên việc điều trị cũng cần căn cứ vào yếu tố này. Dù áp dụng phác đồ điều trị như thế nào thì tất cả những phương pháp này cũng đều hướng đến mục tiêu là lặp lại quá trình lưu thông máu bình thường ở hệ tuần hoàn. 

Hiện nay, việc điều trị huyết khối chủ yếu áp dụng các phương pháp:

– Điều trị bằng thuốc: thuốc làm tan huyết khối, thuốc chống đông.

– Phẫu thuật hoặc thủ thuật: một số biện pháp thường được áp dụng như:

+ Phẫu thuật mở tĩnh mạch để loại bỏ hoàn toàn huyết khối.

+ Phẫu thuật để đặt lưới lọc ở tĩnh mạch chủ.

+ Sử dụng dụng cụ cơ học để loại bỏ huyết khối.

Những thông tin được chia sẻ từ bài viết trên đây hy vọng có thể giúp bạn đọc hiểu bệnh huyết khối là gì cũng như cơ chế hình thành và cách thức điều trị bệnh. Mọi thắc mắc có liên quan đến bệnh lý này, bạn đọc có thể liên hệ đến Tổng đài 1900 56 56 56 để trao đổi cùng đội ngũ chuyên gia y tế của Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC, chúng tôi luôn sẵn lòng chia sẻ cùng bạn những thông tin chính xác và cần thiết về vấn đề mà bạn đang quan tâm.

Chi tiết thông tin cho Bệnh huyết khối là gì, phương pháp điều trị ra sao?…

Tìm hiểu chung

Huyết khối (cục máu đông) là gì?

Huyết khối là các cục máu đông dạng gel hình thành trong mạch máu. Quá trình hình thành huyết khối giúp tập trung máu đến các mạch máu bị vỡ và làm ngừng chảy máu khi bạn bị thương.

Lúc này, các tiểu cầu được “triệu tập” đến vùng tổn thương để tạo ra nút chặn ban đầu. Các yếu tố đông máu gây ra một phản ứng dây chuyền nhanh chóng, dẫn đến hình thành các sợi fibrin giúp liên kết các tiểu cầu với nhau. Nhiều tiểu cầu phóng thích các chất hóa học để thu hút các tiểu cầu khác tạo thành một cục máu đông bền hơn và ngăn chặn tình trạng chảy máu.

Các protein giúp cơ thể xác định thời điểm dừng lại quá trình tạo cục máu đông khi nó đủ lớn. Khi vết thương được chữa lành, các sợi sẽ tự hòa tan và những tiểu cầu quay trở lại trạng thái bình thường.

Thông thường, quá trình hình thành cục máu đông là một quá trình có lợi cho cơ thể, giúp bạn không bị mất máu quá nhiều khi bị thương. Tuy nhiên, nếu cục máu đông hình thành ở một số vị trí và không hòa tan, chúng có thể gây cản trở lưu thông máu, gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng như thuyên tắc phổi, nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Vì vậy, cần nhận biết các dấu hiệu huyết khối để điều trị kịp thời.

Chi tiết thông tin cho Huyết khối (Cục máu đông) là gì? Triệu chứng và điều trị • Hello Bacsi…

1. Huyết khối là gì?

Huyết khối (từ tiếng Hy Lạp cổ đại θρόμβωσις thrómbōsis “đông máu”) là sự hình thành cục máu đông bên trong mạch máu, cản trở dòng chảy của máu qua hệ tuần hoàn. Khi mạch máu (tĩnh mạch hoặc động mạch) bị thương, cơ thể sử dụng tiểu cầu (huyết khối) và fibrin để tạo thành cục máu đông để ngăn mất máu. Ngay cả khi mạch máu không bị thương, cục máu đông có thể hình thành trong cơ thể trong một số điều kiện nhất định. Một cục máu đông hoặc một phần của cục máu đông sẽ tự vỡ và bắt đầu di chuyển khắp cơ thể được gọi là tắc mạch.

Huyết khối có thể xảy ra trong tĩnh mạch (huyết khối tĩnh mạch) hoặc trong động mạch (huyết khối động mạch). Huyết khối tĩnh mạch dẫn đến tắc nghẽn phần bị ảnh hưởng của cơ thể, trong khi huyết khối động mạch (và hiếm khi huyết khối tĩnh mạch nghiêm trọng) ảnh hưởng đến việc cung cấp máu và dẫn đến tổn thương mô do động mạch đó cung cấp (thiếu máu cục bộ và hoại tử). Một mảnh của huyết khối động mạch hoặc tĩnh mạch có thể vỡ ra như một cục thuyên tắc có thể di chuyển qua hệ tuần hoàn và lưu lại ở một nơi khác như một cục thuyên tắc. Loại thuyên tắc này được gọi là thuyên tắc huyết khối. Các biến chứng có thể phát sinh khi huyết khối tĩnh mạch (thường được gọi là VTE) đọng lại trong phổi như thuyên tắc phổi. Thuyên tắc động mạch có thể di chuyển sâu hơn xuống mạch máu bị ảnh hưởng, nơi nó có thể chuyển sang dạng tắc mạch.

Huyết khối xảy ra khi cục máu đông hình thành trong tĩnh mạch hoặc động mạch. Cục máu đông được gọi là huyết khối. Thông thường, cục máu đông chỉ hình thành khi bạn tự cắt và bắt đầu chảy máu. Tại vị trí vết cắt, máu sẽ đặc hơn và đóng thành cục để ‘bịt’ vết thương lại để nó cầm máu.

2. Cơ chế hình thành và yếu tố gây tắc mạch:

Các loại huyết khối

Nếu bạn có cục máu đông trong tĩnh mạch gần da, nó được gọi là huyết khối bề ngoài. Điều này có thể gây đau đớn, nhưng thường không nghiêm trọng.

Nếu cục máu đông hình thành trong động mạch của bạn, đây được gọi là huyết khối động mạch. Điều này có thể gây ra các vấn đề nghiêm trọng.

Khi một cục máu đông hình thành trong các tĩnh mạch sâu bên trong cơ thể bạn, nó được gọi là huyết khối tĩnh mạch sâu, hoặc DVT. Điều này cũng có thể gây ra các vấn đề nghiêm trọng.

Huyết khối động mạch thường ảnh hưởng đến những người có động mạch bị tắc nghẽn do chất béo tích tụ. Điều này khiến các động mạch ngày càng hẹp và cứng hơn. Bạn có nhiều khả năng hình thành huyết khối trong tĩnh mạch nếu bạn: gần đây đã được phẫu thuật Khói đã bất động trong thời gian dài thừa cân hoặc béo phì đang mang thai bị ung thư đang điều trị hormone (bao gồm cả uống thuốc tránh thai) bị rối loạn máu bị mất nước đã có một DVT trước đây

Xem thêm: Sảy thai, phá thai bệnh lý có được hưởng chế độ thai sản không?

Nếu bạn đã bị huyết khối bề mặt, có một số lựa chọn điều trị, bao gồm thuốc, phẫu thuật và băng bó chi bị ảnh hưởng. Việc điều trị huyết khối động mạch hoặc tĩnh mạch sâu sẽ phụ thuộc vào vị trí của nó và mức độ tổn thương. Nó có thể phải nhập viện. Một số người được khuyên nên phẫu thuật để loại bỏ hoặc bắc qua cục máu đông, hoặc mở rộng động mạch. Những người khác được kê đơn thuốc để làm tan cục máu đông. Vớ nén có thể làm giảm sưng và đau ở chân. Một số người được kê đơn thuốc chống đông máu, như warfarin, để làm loãng máu và giảm nguy cơ đông máu. Đôi khi, thuốc chống đông máu cần được dùng trong nhiều tháng hoặc nhiều năm để ngăn ngừa cục máu đông tái phát.

Huyết khối là cục máu đông trong các mạch máu làm hạn chế dòng chảy của máu. Huyết khối tĩnh mạch và động mạch cấp tính là nguyên nhân tử vong phổ biến nhất ở các nước phát triển. Tỷ lệ tử vong thay đổi theo vị trí và độ nhạy của huyết khối. Nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não (CVA) chiếm tỷ lệ cao nhất trong các trường hợp tử vong do huyết khối ở Hoa Kỳ. Hoạt động này xem xét sinh lý bệnh cơ bản, xác định các yếu tố nguy cơ, đánh giá huyết khối tĩnh mạch và động mạch, đồng thời nêu bật vai trò của các thành viên trong nhóm chuyên môn trong việc phối hợp cung cấp dịch vụ chăm sóc phối hợp tốt và nâng cao kết quả cho các bệnh nhân bị ảnh hưởng.

Mục tiêu:

Xem xét các yếu tố căn nguyên liên quan đến huyết khối tĩnh mạch hoặc động mạch.

Giải thích khi nào cần xem xét chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch hoặc động mạch.

Mô tả cách đánh giá thích hợp huyết khối tĩnh mạch hoặc động mạch.

Vạch ra tầm quan trọng của việc tăng cường phối hợp chăm sóc giữa nhóm chuyên môn để đảm bảo đánh giá và xử trí thích hợp huyết khối tĩnh mạch và động mạch.

Huyết khối là sự hình thành cục máu đông (tắc nghẽn một phần hoặc hoàn toàn) trong các mạch máu, dù là tĩnh mạch hay động mạch, hạn chế dòng chảy tự nhiên của máu và dẫn đến di chứng lâm sàng. Khả năng máu lưu thông tự do trong mạch dựa vào cân bằng nội môi phức tạp tồn tại giữa các tế bào máu (bao gồm cả tiểu cầu), protein huyết tương, các yếu tố đông máu, các yếu tố viêm và cytokine, và lớp nội mô bên trong lòng động mạch và tĩnh mạch. Khi mất cân bằng quá trình sinh lý này, có thể tăng nguy cơ hình thành huyết khối so với rối loạn đông máu (tăng nguy cơ chảy máu).

Xem thêm: Niêm mạc là gì? Vai trò của niêm mạc với cơ thể thế nào?

Trong một số trường hợp lâm sàng nhất định, bệnh nhân có thể bị tăng nguy cơ huyết khối và chảy máu đồng thời (ví dụ, rối loạn đông máu nội mạch lan tỏa-DIC, hoặc ở những bệnh nhân có bệnh lý ác tính tiềm ẩn phát triển rối loạn đông máu). Do đó, việc chẩn đoán và xử trí huyết khối rất phức tạp. Chúng có thể phát sinh trong bất kỳ hệ thống cơ quan nào và biểu hiện lâm sàng của chúng có thể khác nhau tùy thuộc vào các bệnh đi kèm cơ bản và sự hiện diện (hoặc vắng mặt) của các yếu tố kích thích. Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến quyết định xử trí, bao gồm cả tĩnh mạch hay động mạch, cấp tính hay mãn tính, đợt đầu hay đợt sau, tiền sử gia đình, đánh giá yếu tố nguy cơ và huyết động ổn định. Việc sử dụng và thời gian điều trị chống đông máu hoặc chống kết tập tiểu cầu phụ thuộc vào việc đánh giá cẩn thận các yếu tố này. Hơn nữa, quyết định theo đuổi một phương pháp điều trị tăng đông hoàn toàn để đánh giá thêm các tình trạng di truyền hoặc mắc phải dẫn đến hình thành huyết khối còn đang tranh cãi. Nó chỉ nên được hoàn thành ở những bệnh nhân được lựa chọn cẩn thận hoặc được đánh giá huyết học phụ chuyên khoa trước đó.

Cùng với nhau, huyết khối tĩnh mạch và động mạch cấp tính là nguyên nhân gây tử vong phổ biến nhất ở các nước phát triển. Tỷ lệ tử vong này phụ thuộc vào vị trí và độ di chuyển của huyết khối, với nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não (CVA) hoặc đột quỵ chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các trường hợp tử vong do huyết khối ở Hoa Kỳ.

Sự hiểu biết về sinh lý bệnh cơ bản của huyết khối và các yếu tố nguy cơ gây ra có thể hỗ trợ các bác sĩ lâm sàng trong việc chẩn đoán, điều trị và quản lý tình trạng này. Tuy nhiên, chủ đề này vô cùng rộng lớn với nhiều sự khác biệt về quản lý cụ thể và các quyết định tùy thuộc vào căn nguyên, các yếu tố nguy cơ, vị trí của huyết khối (tĩnh mạch hoặc động mạch), và lựa chọn liệu pháp chống đông máu hoặc chống kết tập tiểu cầu. Nhiều bệnh nhân có thể yêu cầu đánh giá chuyên khoa phụ với bác sĩ tim mạch, bác sĩ mạch máu, bác sĩ thần kinh và / hoặc bác sĩ huyết học. Hiện trạng khoa học về huyết khối động mạch và tĩnh mạch đang không ngừng phát triển, cũng như hiểu biết của chúng tôi về việc kích thích các yếu tố nguy cơ, xét nghiệm tăng đông máu và quản lý y tế.

Nguyên nhân của huyết khối là đa yếu tố. Như đã ghi nhận, huyết khối xuất hiện khi có sự mất cân bằng trong quá trình kháng đông và cầm máu nội sinh thông qua một cơ chế sinh lý bệnh phức tạp. Về mặt lịch sử, ba yếu tố phổ biến dẫn đến hình thành huyết khối:

– Tổn thương lớp nội mô của thành mạch;

– Tình trạng đông máu,

– Ứ máu động mạch hoặc tĩnh mạch.

Ba yếu tố này được biết đến với biệt danh “Bộ ba của Virchow.” Rudolf Virchow đề xuất bộ ba Virchow vào năm 1856, và ông đã mô tả cách thức sự hiện diện của ba yếu tố này làm tăng huyết khối. Tổn thương thành nội mô do các yếu tố khác nhau gây ra, có thể bao gồm sự gián đoạn trực tiếp của mạch do đặt ống thông, chấn thương hoặc phẫu thuật. Tăng đông máu là một khái niệm huyết học chung chỉ đơn thuần có nghĩa là tăng nguy cơ hình thành huyết khối (tức là gây huyết khối) thông qua mức độ nâng cao của các thành phần prothrombotic trong máu. Khả năng tăng đông máu này là do nhiều thay đổi trong hệ thống đông máu và cầm máu, có thể là kết quả của các yếu tố viêm, sự thay đổi độ nhớt của máu và các thành phần của máu, tăng cytokine và protein prothrombotic trong tuần hoàn, hoặc sự thiếu hụt các yếu tố chống đông máu tự nhiên hoặc nội sinh .

Xem thêm: Độ lọc cầu thận ước tính là gì? Cách đọc kết quả eGFR?

Chi tiết thông tin cho Huyết khối là gì? Cơ chế hình thành và yếu tố gây tắc mạch?…

Cơ chế hình thành huyết khối

Huyết khối hay cục máu đông được định nghĩa là một quá trình bệnh lý do sự phát động và lan rộng bất hợp lý của các phản ứng đông cầm máu trong cơ thể dẫn đến hình thành cục máu đông trong lòng mạch máu. Tuỳ theo kích thước của huyết khối, đường kính mạch máu mà huyết khối có thể gây tắc mạch hoàn toàn hay bán tắc hoặc nghẽn mạch…

Các giai đoạn hình thành huyết khối

Quá trình hình thành cục máu đông (huyết khối) chính là quá trình đông máu với trên 30 yếu tố tham gia vào quá trình này, trải qua các giai đoạn:

  • Giai đoạn thành mạch: Khi mạch bị tổn thương thành mạch co lại theo cơ chế phản xạ. Tiểu cầu đang di chuyển tự do trong lòng mạch sẽ tụ lại chỗ tổn thương hình thành một nút gọi là cục máu trắng hay đinh Hayem, các tiểu cầu sẽ bám dính lại với nhau và chế tiết ra một số yếu tố khởi động cho quá trình đông máu và đây được gọi là giai đoạn tự cầm máu.
  • Giai đoạn huyết tương: Giai đoạn này khá phức tạp. Trong các mạch máu với sự tham gia của rất nhiều các yếu tố; hình thành thromboplastin, hình thành thrombin tác động lên fibrinogen cuối cùng tạo nên các sợi tơ huyết (fibrin).
  • Giai đoạn huyết khối đông: gồm giai đoạn co cục máu và tiêu cục máu đông. Sự tiêu cục máu đông nhờ khả năng phân hủy của men plasmin được điều hòa bởi một số chất kích thích và ức chế.

Phân loại huyết khối

Xét về cấu trúc, huyết khối thường có hai loại là huyết khối trắng và đỏ, cũng có thể gặp loại hỗn hợp. Huyết khối trắng hình thành khi tế bào nội mạc mạch máu bị tổn thương, tiểu cầu kết dính và ngưng tập, thành phần chủ yếu là tiểu cầu; thường gặp ở động mạch như mạch vành, mạch não,…

Huyết khối đỏ hình thành khi dòng máu chảy chậm với thành phần chính là sợi fibrin bao bọc hồng cầu, thường gặp ở tĩnh mạch.

Ngoài ra, huyết khối còn được phân thành huyết khối động mạch, tĩnh mạch và vi mạch.

Huyết khối động mạch có thành phần chủ yếu là tiểu cầu. Tổn thương thành mạch và sự tăng hoạt hóa tiểu cầu là yếu tố chính gây huyết khối. Thường gặp ở người bệnh tim mạch như tăng huyết áp, mỡ máu, đái tháo đường…

Chi tiết thông tin cho Cơ chế hình thành huyết khối – kẻ thù của bệnh nhân tim mạch…

.

Ngoài xem những thông tin về chủ đề Huyết Khối Là Gì này. Bạn có thể xem thêm nhiều chủ đề liên quan đến dược liệu khác như Tra cứu dược liệu

Vậy là chúng tôi đã cập nhật những thông tin mới nhất nhất, được đánh giá cao nhất về Huyết Khối Là Gì trong thời gian qua, hy vọng những thông tin này hữu ích cho bạn.

Cảm ơn bạn đã ghé thăm. Bạn có thể vào mục các loại nhang thờ cúng từ những thảo dược liệu quý được kết tinh thành.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button