Húng giổi

Tên tiếng Việt: Húng giổi, Húng quế, Húng chó, É, Húng quế, La lặc, Phắc y tu (Thái), Năng cốp (Tày)

Tên khoa học: Ocimum basilicum L.

Họ: Lamiaceae

Công dụng: Chữa chàm mặt, mẩn ngứa (Lá giã đắp). Thuốc kích thích tiêu hoá (Hạt). Sổ mũi, đau đầu, đau dạ dày, đầy bụng, viêm ruột, ỉa chảy, kinh nguyệt không đều, thấp khớp, chấn thương bầm giập.

1. Mô tả

Cây nhỏ, sống hàng năm hay lâu năm, cao 25 – 50cm. Thân và cành vuông, nhẵn , phân nhánh nhiều, cành non màu tím đỏ. Lá mọc đối, hình trái xoan – mũi mác, dài 3– 5 cm, rộng 1 – 1.5 cm, gốc thuôn, đầu nhọn, hai mặt nhẵn, màu lục, mặt trên bóng, mặt dưới nhạt, mép nguyên hay hơi khía ràng, cuống lá dài.

Cụm hoa mọc thành xim co ở đầu cành gồm nhiều vòng có 5 – 6 hoa nhỏ màu trắng hơi hồng, các vòng mọc cách xa nhau ở phía dưới và sít nhau ở ngọn, lá hắc nhỏ rụng sớm, đài 5 ràng không bằng nhau mọc nghiêng, tồn tai khi cánh hoa đã rụng, màu luc hoặc tím tía, tràng hợp ở dưới thành ống, rồi xẻ 2 môi, môi trên chia 4 thùy nông, môi dưới nguyên; nhị 4 hơi thò ra ngoài, bầu 4 ô.

Có thể bạn quan tâm:  Đinh Lăng

Quả bế tư, rời nhau, mỗi bế quả đựng một hạt.

Mùa hoa quả: tháng 5 – 8.

2. Phân bố, sinh thái

Chi Ocimum L. có 5 loài ở Việt Nam, tất cả đều là cây trồng làm gia vị hoặc lấy tinh dầu.

Húng Giổi là loài cây cổ nhiệt đới, hiện được trồng khá phổ biến ở các nước nhiệt đới Đông – Nam Á và Nam Á. Ở Việt Nam, Húng Giổi  là cây gia vị quen thuộc, được trồng rộng rãi trong nhân dân, ở vườn gia đình và trên đồng ruộng.

Húng giổi là cây ưa sáng và ưa ẩm, sinh trưởng mạnh trong mùa mưa ẩm. Song với kỹ thuật canh tác hiện nay, người nông dân ở xung quanh Hà Nội, có thể trồng được húng giổi gần như quanh năm, kể cả mùa đông là thời kỳ tàn lụi của cây. Húng giổi ra hoa quả nhiều, hạt gieo nảy mầm tốt. Tuy nhiên để sớm được thu hoạch, người ta thường trồng bằng cành. Cây có khả năng mọc chồi nhanh sau khi bị ngắt ngọn. Tốc độ sinh trưởng của chồi có thể đạt 1- 1.5cm/ngay.

Có thể bạn quan tâm:  Rau diếp

3. Bộ phận dùng

Lá và ngọn có hoa

Toàn cây ( cất tinh dầu )

4. Thành phần hóa học

Phản trên mặt đất của cây húng giối chứa tinh dầu,

Tình dấu có thể được phân chia thành nhiều nhóm hóa học:

1. Nhóm methylchavicol 56,58% (Tapanes R. và cs, 1983), 84% {Fkuandayo và cs, 1987, CA, 107, 83681z) 2. Nhóm linalol và geranyl acetat (Murugesan M. và -ς, 1987, CA 168, 173349 κ. CΛ 108 1647 18ς)

5. Tác dụng  dược lý

Tinh dầu húng giổi có tác dụng ức chế vi khuẩn gram-dương mạnh hơn so với vi khuẩn gram-âm trong thử nghiệm in vitro bằng phương pháp khuếch tán. Tinh dầu húng giổi ức chế sự phát triển các phẩy khuẩn tả Eltor, Inaba và Ogawa khá mạnh, in vitro, đồng thời có tính kháng nấm, ức chế mạnh sự nẩy mầm của bào tử nấm và men. Có tác dung diệt và xua côn trùng, có hiệu quả chống ruồi nhà, và muỗi Cao đương và Myroharferturn. Cao nước của hạt ức chế hoạt tính của enzym coagulase (men làm đông) của tu cẩu vàng. Trong thử nghiêm gây co thắt ruột với histamin, tinh dấu húng giổi với mống đô trong dịch nuôi ruột cô lâp 1/18.000 đến 1/1.800, đã có tác dung làm giảm mức độ co thắt ruột 62%. Điều đó chứng tỏ tinh dầu có tác dung kháng histamin trên cơ trơn Re, vỏ và lá có tính tao acid hydrocyanic.

Có thể bạn quan tâm:  Thảo quả

6.  Tính vị, công năng

Húng giổi có vị cay, tính âm, vào hai kinh phế, Lâm, có tác dụng làm ra mồ hôi, giải cảm, tán máu ứ, giảm đau.

7. Công dụng

Húng giổi được dùng phổ biến làm rau gia vị trong bữa ăn. Trong y học, húng giổi chữa cảm cúm, đầy bụng khó tiêu, vấp ngã hay bị đòn sưng đau. Liều dùng 20g lá tươi giã nhỏ, uống với nước nóng. Dùng ngoài đắp hoặc vò xát chữa vết thương rắn cắn, mẩn ngứa. Hat húng giổi (6 – 12g) ngâm vào nước thường hay nước đường, đợi cho chất nhảy nở ra rồi uống có tác dụng nhuận tràng.

Ở Ấn Độ,tinh dầu húng giổi là chất làm thơm trong sản xuất bánh kẹo, thực phẩm, đổ uống, và các chế phẩm về răng miệng. Cây được coi là có tác dụng bổ dạ dày, diệt giun sán giải độc, hạ sốt, làm ra mồ hôi, long đờm, gây trung tiện, giảm ho. Nước hãm của cây chữa nhức đầu và bệnh gút ở khớp, làm thuốc súc miệng trị hôi miệng. Nước ép lá có tác dụng gây ngủ nhẹ, làm dịu kích thích họng được dùng để rửa mũi, trị đau tai và bệnh nấm da. Cây húng giổi cũng đươc dùng trong hiệu pháp vi lượng đồng căn. Hạt có tác dụng làm dịu kích thích, lơi tiểu, làm ra mồ hôi, làm nát, đươc dùng uống chữa táo bón và trĩ, dùng ngoài đắp trị lở loét.

Có thể bạn quan tâm:  Lá ngón

Cây húng giổi có tính chất nhớt nên giúp ích cho tác dung long đờm, giảm sung huyết và làm thông đường hô hấp. Hạt húng  giổi tán với nước thành bột nhão mịn, uống mỗi lần 5 – 6g, ngày 3 lần để chữa lỵ.

Lá húng giổi (10g) trộn với 5 hạt hổ tiêu và 100 ml nước, sắc lấy nước, cho thêm đường và uống, ngày 3 lần, trong 5 – 7 ngày, chữa thương hàn, kiêng  ăn thức ăn cứng.

Ở Nepal, một nắm phần trên mặt đất của cây húng giổi tươi, sắc với nước, chia uống 3 lần trong ngày, chữa đau bụng trẻ em. Để dự phòng rối loạn tiêu hóa ở trẻ nhỏ, giã 3 lá tươi với ít muối, rồi trộn với nước đun sôi hoặc mật ong, cho dịch này vào sữa và cho trẻ nhỏ bú. Để trị rắn cắn, lấy cây húng giổi phối hợp với rễ cỏ xước và rễ Trichosanthes anguina, giã nát, đắp.

Có thể bạn quan tâm:  Lưỡi rắn

Ở Angieri, nhân dân dùng lá húng giổi dưới dạng thuốc hãm uống chữa viêm họng, viêm phế quản. Ở Italia, nước sắc lá húng giổi là thuốc súc niêng, chữa viêm họng và viêm miệng.

8. Bài thuốc có húng giổi:

  1. Húng giổi, húng chanh, xương sông. Giã giập với ít muối và ngậm.
  2. Húng giổi giã nhỏ chế với nước nóng, vắt lấy nước cốt uống và lấy bã xoa  đắp.