Hoa hiên

Tên tiếng Việt: Hoa hiên, Kim châm, Phắc chăm (Tày), Huyên thảo, Rau huyên

Tên khoa học: Hemerocallis fulva L.

Họ: Hemerocallidaceae

Công dụng: Thuốc giải nhiệt, cầm máu, tiêu viêm, giảm đau, ho, chảy máu cam, kinh nguyệt không đều, vú sưng đau, nôn ra máu, thông đại tiểu tiện (Lá, hoa). Chữa viêm đại tràng (Rễ sắc uống).

A. Mô tả cây

Hoa hiên là một loại cỏ sống lâu năm, thân rễ rất ngắn, có rễ mẫm nhưng nhỏ. Lá hình sợi, dài 30-50cm, rộng 2,5cm hay hơn, trên mặt có nhiều mạch. Trục mang hoa cao bằng lá, phía trên phân nhánh, có 6-10 đến 12 hoa. Hoa to, màu vàng đỏ ,có mùi thơm, tràng hoa hình phễu, phía trên xẻ thành 6 phiến. nhị 6, bầu có 3 ngăn. Quả hình 3 cạnh. Hạt bóng, màu đen. Ra hoa vào mùa hạ và thu

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Hoa hiên mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi trong nước ta để lấy hoa nấu canh. Một số nơi dùng lá hay hoa làm thuốc chữa đỗ máu cam, còn mọc ở Trung Quốc, Nhật Bản, Châu Âu, lá hái quanh năm; rễ đào vào thu đông, có khi vào các mùa khác, dùng tươi hay phơi khô, thường dùng tươi

Có thể bạn quan tâm:  Phù dung

C. Thành phần hoá học

  • Khương Chi Nghĩa (Viện dược học Nam kinh, Trung quốc) đã chiết được từ rễ hoa hiên của Trấn giang 3 chất có tinh thể gọi là chất A, B và C, qua thí nghiệm dược lý thì có tác dụng ức chế đối với huyết hấp trùng nhưng có độc
  • Các bộ phận khác, chưa thấy tài liệu nghiên cứu

D. Tác dụng dược lý

  • Năm 1964, Ngô Thế Phương (Bộm ôn sinh lý) và Dương Hữu Lợi (Bộm ôn dược lý) Trường đại học y khoa Hà nội đã dựa vào kinh nghiệm nhân dân, nghiên cứu cơ chế tác dụng của hoa hiên trên súc vật thì thấy (Tạp chí đông y số 76 1966, trang 18-22):
  • Dùng nước sắc hoa hiên thời gian Quick giảm rõ rệt, nghĩa là làm tăng tỷ lệ protrombin toàn phần
  • Cũng như vitamin K, nước sắc hoa hiên có tác dụng chống lại tác dụng của dicumarin
  • Tiểu cầu tăng, hồng cầu tăng, nhưng số lượng bạch cầu không cô lập
  • Tác dụng ngoại vi rõ rệt hơn là tác dụng trung ương
Có thể bạn quan tâm:  Củ chóc

E. Công dụng và liều dùng

  • Hoa hiên mới thấy được dùng trong phạm vi nhân dân
  • Theo đông y: hoa hiên có vị ngọt, tính mát, có tác dụng chữa vàng da do rượu, tiểu tiện ra sỏi, sạn, sưng đau, máu cam
  • Thường dùng làm thuốc lợi tiểu, giảm đau, chữa sốt, thuỷ thũng, thân thể bị vàng, tiểu tiện khó khăn, vú sưng đau, lỵ, chảy máu cam, sưng đau khớp xương, nôn ra máu
  • Liều dùng hằng ngày là 6-12g dưới dạng thuốc sắc, hay ép tươi lấy nước uống. dùng ngoài, lấy củ tươi giã nát đắp lên nơi sưng đau
  • Gần đây tại Trung Quốc có nơi dùng rễ hoa hiên điều trị có kết quả rõ rệt bệnh huyết hấp trùng (sán máu, sàn máng-schistosomiase), nhưng với liều cao có thể gây mờ mắt.
  • Đơn thuốc có hoa hiên trong nhân dân:  Chữa chảy máu cam: lá hoa hiên 15-20g, nấu với 300ml nước, cô còn 200ml chia 2 lần uống trong ngày
Có thể bạn quan tâm:  Cà phê

Chú thích

  • Tại Trung Quốc, ngoài rễ cây hoa hiên Hemerocallis fulva ra, người ta còn dùng rễ của
  • Nhiều loài Hemeracallis khác như Hemeracallis thunbergli Baker, Hemeracallis citrine Baroni, H. minor Mill. Ở nước ta tên khoa học chưa được xác định chắc chắn, theo kinh nghiệm loại hoa vàng có tác dụng mạnh hơn loại hoa đỏ