Giâu gia

Tên tiếng Việt: Giâu gia quả nhọn, Gạt nai, Săng vé, Săng ớt mốc

Tên khoa học: Baccaurea ramiflora Lour.

Họ: Euphorbiaceae

Công dụng: Chữa thấp khớp (Lá, hoa).

 

A. Mô tả cây:

  • Cây gỗ cao 10-15m. Các cành non mảnh, nhẵn. Lá thường nhóm họp ở cuối các cành đó. Lá dày, hình tròn dài, nhọn ở hai đầu, dài 10-20cm, rộng 3-9cm; lá kèm hơi có lông ở mặt lưng, sớm rụng. Hoa xếp thành chùm dài ở nách, trên các sẹo lá. Hoa đực có 4-5 lá đài, 6-10 nhị. Hoa cái có 5-6 lá đài và bầu hình cầu phủ lông tơ rất dày, có 2-4 ô, mỗi ô chứa 2 noãn. Quả mọng, nhẵn, có 3 ngăn, mỗi ngăn có 1 hạt, phía ngoài có cơm mọng.
  • Ra hoa tháng 2-3 và quả chín tháng 6-8.

B. Phân bố, sinh thái: 

  • Cây của vùng Ấn Độ, Malaixia mọc hoang ở rừng và cũng thường được trồng lấy quả ăn. Ở Việt Nam, loài này cũng phân bố rộng rãi ở hầu hết các tỉnh miền núi suốt từ bắc đến nam. Độ cao phân bố có thể đến 600 – 700m (ở các tỉnh phía nam).
  • Giâu gia là loại cây gỗ trung sinh, ưa sáng và có thể chịu bóng, thường mọc rải rác ở rừng kín thường xanh ẩm, trên núi đất hay núi đá. Cây sinh trưởng tốt trên nhiều loại đất, nhất là tầng đất thịt dày có nhiều mùn và giữ nước tốt. Giâu gia ra hoa quả rất nhiều có thể phủ kín thân và cành. Từ khi hoa nở đến lúc quả chín khoảng 2 tháng. Cây tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt. Cây trồng bằng cành hoặc bằng hạt thường được chọn lọc từ cây có quả to và ngọt. Người ta thường trồng giâu gia lẫn với các loại cây ăn quả khác ở vườn hoặc xung quanh bờ ao.
Có thể bạn quan tâm:  Cánh kiến đỏ

C. Bộ phận dùng:

Lá, quả và vỏ cây.

E. Công dụng:

Quả chín ăn rất ngọt và ngon, kích thích tiêu hoá. Lá dùng chữa sưng tấy, mụn nhọt, lở loét, dị ứng. Thường dùng giã nát trộn giấm bôi. Ở Trung Quốc, vỏ cây giâu gia được dùng chữa viêm da do sán vịt.