Thảo dược

Dấu Hiệu Nhiễm Trùng – Trang thông tin dược liệu cho mọi nhà

Dấu Hiệu Nhiễm Trùng có phải là thông tin bạn đang quan tâm tìm hiểu? Website NhangThaoDuoc sẽ giới thiệu cho bạn những thông tin mới nhất chính xác nhất về Dấu Hiệu Nhiễm Trùng trong bài viết này nhé!

Video: dấu hiệu nhiễm hiv giai đoạn đầu

Bạn đang xem video dấu hiệu nhiễm hiv giai đoạn đầu được cập nhật từ kênh Tư vấn HIV từ ngày 2022-11-02 với mô tả như dưới đây.

Một số thông tin dưới đây về Dấu Hiệu Nhiễm Trùng:

I. 5 dấu hiệu của vết thương bị nhiễm trùng

Bình thường, da là hàng rào bảo vệ của cơ thể khỏi những tác nhân từ bên ngoài. Khi gặp vết thương hở, hàng rào đó bị tổn thương làm mất đi khả năng bảo vệ vốn có. Số lượng vi khuẩn tấn công quá nhiều mà hệ miễn dịch không thể chống lại sẽ dễ xuất hiện nhiễm trùng. Tùy thuộc vào vị trí và nguyên nhân gây nhiễm trùng mà sẽ có các biểu hiện khác nhau. Dưới đây là 5 dấu hiệu khi vết thương bị nhiễm trùng do vi khuẩn gây ra.

1. Sốt

Đây là phản ứng bình thường của cơ thể khi xảy ra phản ứng viêm. Thông thường, khi gặp vết thương nặng, bạn có thể sốt nhẹ dưới 38oC. Trong trường hợp sốt trên 38oC và kéo dài là gợi ý có thể vết thương đã bị nhiễm trùng. Bạn cần chú ý dấu hiệu này để có cách xử lý hiệu quả nhất.

2. Vết thương sưng, đau, nóng đỏ

Vết thương có dấu hiệu bị sưng tấy, nóng đỏ. Bạn phải hết sức lưu ý vì đây là dấu hiệu chứng tỏ phản ứng viêm đang xảy ra mạnh mẽ. Cơ thể đang phải chống lại một lượng lớn vi khuẩn tấn công vào ổ tổn thương.

3. Vết thương chảy dịch và có mùi

Bình thường, các vết thương hở sẽ tiết dịch trong hoặc màu hơi vàng. Khi bị nhiễm trùng, dịch tiết sẽ có màu sắc thay đổi: vàng đậm, xanh lá cây. Bên cạnh đó, nó sẽ kèm theo mùi hôi khó chịu. Cần theo dõi vết thương để kịp thời nhận ra sự thay đổi này.

4. Cảm giác đau nhiều

Cảm giác đau đớn không hề giảm đi là một dấu hiệu cảnh báo nhiễm trùng không thể bỏ qua. Bình thường, đau chỉ lên đến đỉnh điểm vào ngày thứ 2 bị thương và sau đó giảm dần. Nếu không đỡ đau và thậm chí đau nhiều hơn trước, bạn cũng nên lưu ý vì vết thương có thể bị nhiễm trùng.

5. Cơ thể mệt mỏi

Khi cơ thể bị tấn công liên tục với số lượng lớn tác nhân có hại, bạn sẽ có cảm giác mệt mỏi, yếu ớt. Ngoài ra, bạn cũng sẽ thấy đau nhức, chán ăn hoặc ăn không ngon miệng.

Chi tiết thông tin cho 5 dấu hiệu vết thương bị nhiễm trùng và 4 bước xử lý hiệu quả nhanh – Dizigone – Kháng khuẩn vượt trội…

1. Nhiễm trùng là gì?

Định nghĩa nhiễm khuẩn (còn gọi là nhiễm trùng) là sự tăng sinh của các vi khuẩn, virus hoặc ký sinh trùng… đối với cơ thể, dẫn tới các phản ứng tế bào, tổ chức hoặc phản ứng toàn thân. Thông thường, biểu hiện trên lâm sàng là một hội chứng nhiễm khuẩn, nhiễm độc.

Nhiễm trùng có thể tại một vị trí cố định hoặc đi theo đường máu lan khắp cơ thể. Tuy nhiên, một số vi sinh vật tự nhiên sống trong cơ thể không được xem là nhiễm trùng, ví dụ: vi khuẩn thường trú trong miệng và ruột. Vi khuẩn và virus không thể nhìn thấy bằng mắt thường, chúng có thể gây ra các triệu chứng tương tự nhau và thường lây lan theo những con đường giống nhau. Đây là điểm tương đồng duy nhất giữa vi khuẩn và virus. Việc phân biệt nhiễm trùng do vi khuẩn và virus rất quan trọng cho việc chẩn đoán và điều trị bệnh:

  • Vi khuẩn là một thể duy nhất, chúng là tế bào rất phức tạp và có thể tự tồn tại bên trong hoặc bên ngoài cơ thể. Hầu hết các vi khuẩn không có hại. Trong thực tế, có nhiều vi khuẩn thường trú trên da và trong cơ thể của chúng ta, đặc biệt là trong ruột giúp tiêu hóa thức ăn.
  • Virus có kích thước nhỏ hơn và có cấu tạo không phải là tế bào. Không giống như vi khuẩn, virus cần một vật chủ như con người hay động vật để nhân lên. Virus gây nhiễm trùng bằng cách nhập vào nhân bên trong các tế bào khỏe mạnh của vật chủ.

Nhiễm khuẩn do vi khuẩn

2. Nhiễm khuẩn bệnh viện là gì?

Nhiễm khuẩn bệnh viện là tình trạng nhiễm trùng xảy ra ở các bệnh nhân trong thời gian nằm viện. Các bệnh nhân này hoàn toàn không mắc các bệnh nhiễm khuẩn tiềm tàng trước thời điểm nhập viện.

Những trường hợp nhiễm khuẩn trong 48 giờ đầu kể từ khi bệnh nhân vào viện thì không phải là nhiễm khuẩn bệnh viện. Ngược lại, một số bệnh nhân khi vào viện không mắc bệnh nhưng sau khi ra viện một thời gian thì bệnh xuất hiện, đây rất có thể là nhiễm khuẩn bệnh viện. Ví dụ: bệnh viêm gan virus B hoặc C, nhiễm HIV, viêm xương khớp do đóng đinh nội tủy… những bệnh có thời gian nung bệnh dài ngày.

Chi tiết thông tin cho Thế nào là nhiễm trùng?…

Nhiễm trùng máu (nhiễm khuẩn huyết): Nguyên nhân, dấu hiệu, điều trị và phòng ngừa

Nhiễm trùng vết thương là gì?

Nhiễm trùng vết thương xảy ra khi vi khuẩn xâm nhập vào da. Nhiễm trùng có thể chỉ liên quan đến da hoặc ảnh hưởng đến các mô hoặc cơ quan sâu hơn gần vết thương. Tình trạng nhiễm vi khuẩn gây bệnh uốn ván có thể gây tử vong.

Các biến chứng của vết thương bị nhiễm trùng có thể thay đổi phạm vi từ tại chỗ đến toàn thân. Các biến chứng tại chỗ nghiêm trọng nhất của một vết thương bị nhiễm trùng là vết thương chậm lành dẫn đến không lành được. Điều này thường gây đau đớn, khó chịu và ảnh hưởng xấu đến tâm lý cho người bệnh. Các biến chứng toàn thân có thể bao gồm viêm mô tế bào (nhiễm khuẩn da hoặc dưới da), viêm tủy xương (nhiễm trùng xương hoặc tủy xương) hoặc nhiễm khuẩn huyết (sự hiện diện của vi khuẩn trong máu có thể dẫn đến tình trạng viêm toàn thân).

5 dấu hiệu vết thương bị nhiễm trùng

Bạn có từng thắc mắc dấu hiệu cho biết vết thương bị nhiễm trùng là gì hay vết thương bị nhiễm trùng sẽ như thế nào không. Theo các chuyên gia, 5 dấu hiệu điển hình giúp bạn dễ nhận biết vết thương bị nhiễm trùng bao gồm:

  1. Vết thương chảy dịch màu vàng, xanh lá cây hoặc có mùi hôi
  2. Vị trí vết thương hay gần vết thương đau nhiều, sưng hoặc đỏ tấy
  3. Vết thương thay đổi màu sắc hoặc kích thước
  4. Các vệt đỏ trên da xung quanh vết thương
  5. Sốt cao.

Ngoài các dấu hiệu nhiễm trùng vết thương kể trên, bạn có thể gặp các triệu chứng khác không được đề cập. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về các dấu hiệu bệnh, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ.

Khi nào bạn cần gặp bác sĩ?

Nếu bạn có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào nêu trên hoặc có bất kỳ câu hỏi nào, xin vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ. Cơ địa mỗi người là khác nhau, vì vậy hãy hỏi ý kiến bác sĩ để lựa chọn được phương án thích hợp nhất.

Chi tiết thông tin cho 5 dấu hiệu nhiễm trùng vết thương cần lưu ý để chữa trị kịp thời…

Nhiễm trùng là gì?

Nhiễm trùng xảy ra khi các vi sinh vật xâm nhập vào cơ thể và gây bệnh. Các sinh vật gây nhiễm trùng rất đa dạng, có thể bao gồm nấm, virus, vi khuẩn và ký sinh trùng.

Bạn có thể nhiễm trùng theo nhiều cách, chẳng hạn như tiếp xúc trực tiếp với người bệnh, dùng thực phẩm hoặc đồ uống bị nhiễm bẩn hay qua vết cắn của côn trùng.

Các dạng nhiễm trùng

Tốc độ lây nhiễm và mức độ ảnh hưởng của nhiễm trùng lên cơ thể phụ thuộc vào dạng bệnh.

Hệ miễn dịch như một “hàng rào phòng thủ” chống lại các tác nhân xâm nhập từ bên ngoài. Tuy nhiên, trong một số trườn hợp, nguồn bệnh quá mạnh khiến hệ miễn dịch không chống đỡ nổi. Lúc này tình trạng nhiễm trùng sẽ nguy hiểm cho người bệnh.

Một số mầm bệnh ít gây hại, nhưng một số khác có thể sản xuất chất độc hoặc các chất gây viêm. Điều này sẽ kích hoạt các phản ứng tiêu cực trong cơ thể.

Từ thông tin trên, chúng ta thấy rằng nhiễm trùng sẽ có nhiều mức độ khác nhau, từ nhẹ, vừa đến nghiêm trọng, có thể đe dọa đến tính mạng.

Một số mầm bệnh có thể kháng lại việc điều trị.

Những dạng mầm bệnh có thể gây nhiễm trùng gồm virus, vi khuẩn, nấm và ký sinh trùng. Các vi sinh vật này khác nhau về:

  • Kích thước
  • Hình dạng
  • Chức năng
  • Mã gene
  • Cách chúng hoạt động trên cơ thể

Ví dụ, virus nhỏ hơn vi khuẩn. Virus xâm nhập vào cơ thể và xâm chiếm tế bào, trong khi vi khuẩn không cần vật chủ.

Nhiễm trùng do virus

Virus chứa một đoạn mã di truyền nhỏ và một lớp vỏ của các phân tử protein và lipid (chất béo) bảo vệ chúng.

Virus xâm nhập vật chủ và tự gắn vào một tế bào rồi giải phóng vật liệu di truyền. Vật liệu này buộc tế bào sao chép, do đó virus sẽ nhân lên. Khi tế bào chết, nó giải phóng virus mới để lây nhiễm các tế bào mới.

Tuy nhiên, không phải tất cả virus phá hủy tế bào chủ của chúng. Một số sẽ thay đổi chức năng của tế bào. Một số khác, chẳng hạn như papillomavirus ở người (HPV) và virus Epstein-Barr (EBV), có thể dẫn đến ung thư bằng cách buộc các tế bào sao chép không kiểm soát.

Một số loại virus cũng có thể tấn công những người trong độ tuổi nhất định, chẳng hạn như trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ.

Virus có thể không hoạt động trong một thời gian trước khi nhân lên một lần nữa. Người bị virus có thể đã bình phục hoàn toàn, nhưng sẽ bị bệnh trở lại khi chúng hoạt động trở lại.

Các tình trạng nhiễm virus gồm:

  • Cảm lạnh thông thường, chủ yếu xảy ra do rhinovirus, coronavirus và adenovirus
  • Viêm não và viêm màng não, do enterovirus và virus herpes simplex (HSV), cũng như Virus West Nile
  • Mụn cóc và nhiễm trùng da, do HPV và HSV gây ra
  • Viêm dạ dày ruột do norovirus gây ra
  • COVID-19, một bệnh về đường hô hấp gây ra bởi coronavirus chủng mới

Các tình trạng nhiễm virus khác bao gồm:

  • Nhiễm virus Zika
  • HIV/AIDS
  • Viêm gan C
  • Bệnh bại liệt
  • Cúm, bao gồm cả cúm lợn
  • Bệnh sốt xuất huyết
  • Ebola
  • Hội chứng hô hấp cấp Trung Đông (MERS-CoV)

Thuốc kháng virus có thể giúp làm giảm các triệu chứng bệnh. Chúng có thể ngăn chặn virus sinh sản hoặc tăng cường hệ thống miễn dịch để chống lại tác động của virus.

Thuốc kháng sinh không có hiệu quả trong điều trị nhiễm virus. Những loại thuốc này sẽ không ngăn chặn được virus và việc sử dụng chúng làm tăng nguy cơ kháng kháng sinh.

Hầu hết các cách điều trị không cần thuốc nhằm mục đích làm giảm các triệu chứng trong lúc hệ thống miễn dịch chống lại virus.

Nhiễm trùng do vi khuẩn

Vi khuẩn là vi sinh vật đơn bào. Chúng rất đa dạng, có nhiều hình dạng và kích cỡ khác nhau.

Vi khuẩn có thể sống trong tất cả môi trường, bao gồm đất, các vùng nước, bên trong hoặc trên cơ thể chúng ta. Một số có thể tồn tại ở nhiệt độ cao hoặc thậm chí phơi nhiễm bức xạ.

Mặc dù có rất nhiều vi khuẩn trong và trên cơ thể, nhưng chúng thường không gây bệnh. Trên thực tế, vi khuẩn trong đường tiêu hóa (lợi khuẩn) còn có thể giúp chúng ta tiêu hóa thức ăn.

Tuy nhiên, đôi khi vi khuẩn có thể xâm nhập vào cơ thể và gây nhiễm trùng. Một số tình trạng nhiễm trùng do vi khuẩn như:

  • Viêm họng liên cầu khuẩn
  • Nhiễm trùng đường tiết niệu do vi khuẩn (UTI), thường do vi khuẩn coliform gây ra
  • Ngộ độc thực phẩm, thường do E. coli, Salmonella hoặc Shigella gây ra
  • Viêm mô tế bào, chẳng hạn như do Staphylococcus aureus (MRSA)
  • Viêm âm đạo
  • Bệnh da liễu
  • Chlamydia
  • Giang mai
  • Clostridium difficile (C. diff)
  • Bệnh lao
  • Ho gà
  • Viêm phổi do phế cầu khuẩn
  • Viêm màng não do vi khuẩn
  • Bệnh Lyme
  • Dịch tả
  • Ngộ độc
  • Uốn ván
  • Bệnh than

Nhiễm trùng do vi khuẩn thường được điều trị bằng kháng sinh. Các thuốc này có thể ngăn cản vi khuẩn nhân lên hoặc tiêu diệt chúng hoàn toàn.

Có nhiều loại kháng sinh khác nhau và chỉ được dùng khi có chỉ định từ bác sĩ. Họ sẽ kê cho bạn loại kháng sinh phù hợp với tình trạng của bạn. Việc lạm dụng kháng sinh sẽ khiến nhiều vi khuẩn phát triển đề kháng với chúng, làm bạn bị kháng kháng sinh.

Nhiễm trùng do nấm

Nấm là một nhóm sinh vật đa dạng, gồm nấm men và nấm mốc. Chúng có ở khắp nơi, bao gồm trong đất, những khu vực ẩm ướt như phòng tắm và trên hoặc trong cơ thể chúng ta.

Đôi khi, nấm nhỏ đến mức bạn không thể nhìn thấy chúng bằng mắt thường.

Không phải tất cả các loại nấm đều có thể làm cho bạn bệnh, nhưng một số có thể gây ra các tình trạng sau:

  • Nhiễm nấm âm đạo
  • Nấm ngoài da
  • Nấm ở bàn chân
  • Bệnh tưa miệng
  • Nhiễm trùng nấm Aspergillus
  • Nhiễm nấm Histoplasma
  • Nhiễm Cryptococcus
  • Viêm màng não do nấm

Nhiễm nấm có thể được điều trị bằng thuốc kháng nấm. Tùy thuộc vào tình trạng của bạn, bác sĩ sẽ chỉ định loại thuốc phù hợp.

Ví dụ, kem chống nấm tại chỗ có thể dùng cho nhiễm giun đũa hoặc nấm bàn chân. Bác sĩ cũng có thể chỉ định thuốc kháng nấm đường uống. Nhiễm nấm nặng hơn có thể cần dùng thuốc chống nấm dạng tiêm tĩnh mạch (IV).

Nhiễm ký sinh trùng

Ký sinh trùng sống trên hoặc trong một sinh vật chủ và nhận thức ăn hoặc các chất dinh dưỡng của vật chủ. Có ba loại ký sinh trùng có thể gây bệnh ở người:

  • Động vật nguyên sinh: sinh vật nhỏ và một tế bào
  • Giun sán: sinh vật lớn hơn, giống như giun
  • Ngoại ký sinh trùng (Ectoparaites): các sinh vật như bọ chét, ve và chấy

Một số ví dụ về nhiễm trùng do ký sinh trùng gây ra gồm:

  • Bệnh sốt rét
  • Bệnh toxoplasmosis
  • Nhiễm trichomonas
  • Bệnh giardia
  • Nhiễm sán dây
  • Nhiễm giun đũa
  • Rận mu và chấy
  • Ghẻ
  • Bệnh leishmania
  • Bệnh mù do giun chỉ Onchocerca

Tương tự với nhiễm trùng do vi khuẩn và nấm, những loại thuốc đặc hiệu có thể giúp điều trị nhiễm ký sinh trùng. Loại thuốc chống ký sinh trùng mà bạn cần phải uống sẽ phụ thuộc vào loại ký sinh trùng gây ra nhiễm trùng.

Prion

Prion thực sự không phải là sinh vật – nó là một loại protein. Prion có thể ảnh hưởng đến protein cơ thể bình thường và khiến chúng gấp thành hình dạng bất thường. Prion có thể gây ra chứng mất trí và những khó khăn khi người bệnh đi hoặc nói.

Thực tế, bệnh Prion rất hiếm.

Nguyên nhân gây bệnh có thể do di truyền, tiêu thụ thực phẩm bị ô nhiễm. Hiện tại không có điều trị chữa bệnh prion. Tuy nhiên, một số loại thuốc có thể làm chậm tiến trình của bệnh.

Chi tiết thông tin cho Nhiễm trùng là gì? Triệu chứng & thuốc • Hello Bacsi…

Hội chứng nhiễm trùng là gì?

Nhiễm trùng là tình trạng tấn công và tăng rất nhanh của các vi sinh vật như vi khuẩn, virus, ký sinh trùng vốn thường không tồn tại ở trong cơ thể.

Nhiễm trùng có thể xảy ra tại một vị trí cố định hoặc đi theo đường máu lan khắp cơ thể. Tuy nhiên, một số vi sinh vật tự nhiên sống trong cơ thể không được coi là nhiễm trùng, ví dụ như vi khuẩn thường trú trong miệng và ruột.

Vi khuẩn và virus không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Chúng có thể gây ra các triệu chứng tương tự nhau và thường lây lan theo những đường giống nhau, nhưng đây cũng là điểm tương đồng duy nhất giữa vi khuẩn và virus.

Việc phân biệt giữa vi khuẩn và virus rất quan trọng cho cả chẩn đoán và điều trị bệnh:

  • Vi khuẩn là một thể duy nhất, nhưng chúng là tế bào rất phức tạp và có thể tự tồn tại bên trong hoặc bên ngoài cơ thể;
  • Hầu hết các vi khuẩn không có hại. Trên thực tế, có nhiều vi khuẩn thường trú trên da và trong cơ thể của chúng ta, đặc biệt là trong ruột giúp tiêu hóa thức ăn;
  • Virus nhỏ hơn và có cấu tạo không phải là tế bào. Không giống như vi khuẩn, chúng cần một vật chủ như con người hay động vật để nhân lên. Virus gây nhiễm trùng bằng cách nhập và nhân bên trong các tế bào khỏe mạnh của vật chủ.

Virus vi khuẩn gây ra các hội chứng nhiễm trùng nghiêm trọng

Những dấu hiệu và triệu chứng nhiễm khuẩn/ nhiễm trùng là gì?

Các triệu chứng phổ biến của bệnh nhiễm trùng (vi khuẩn và virus) là ho và hắt hơi, sốt, viêm, nôn mửa, tiêu chảy, mệt mỏi và chuột rút. Tất cả các phản ứng trên là cách mà hệ thống miễn dịch cố gắng loại bỏ sinh vật gây bệnh.

Tuy nhiên, bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn và virus không giống nhau ở nhiều khía cạnh quan trọng khác, hầu hết trong số đó là do sự khác biệt về cấu trúc của sinh vật và cách chúng phản ứng với thuốc.

Bạn có thể gặp các triệu chứng khác không được đề cập. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về các dấu hiệu bệnh, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ.

Khi nào bạn cần phải gặp bác sĩ?

Nếu bạn có dấu hiệu, triệu chứng nêu trên hoặc bất kỳ câu hỏi nào, xin vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ của bạn. Cơ địa và tình trạng bệnh ở mỗi người là khác nhau và bác sĩ có thể giúp bạn lựa chọn được phương án điều trị thích hợp nhất.

Sốt nhiễm trùng không thể chủ quan.

Chi tiết thông tin cho Bệnh nhiễm trùng là gì? Những điều cần biết | Pacific Cross Việt Nam…

1. Đôi nét kiến thức về nhiễm trùng tai

Nhiễm trùng tai diễn tả tình trạng vị trí ống tai giữa bị viêm nhiễm, thường mang tính chất cấp tính. Hầu hết mọi trường hợp đều liên quan đến các loại vi khuẩn xâm nhập và khu trú tại đường mũi họng lâu ngày, dần xâm lấn đến tai.

Quá trình nhiễm trùng sẽ sinh ra dịch và bị ứ đọng lại, gây áp lực lên phần tai giữa, tình trạng này vẫn có thể diễn ra sau khi trẻ đã giảm bớt cơn đau cùng các triệu chứng khác trong vài tuần, hoặc thậm chí đến vài tháng. Lượng dịch ứ đọng kéo dài còn có thể khiến trẻ suy giảm hay mất thính lực, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng giao tiếp và học hỏi của trẻ.

Theo các thông số điều tra, có khoảng 50% trẻ mắc phải các triệu chứng nhiễm trùng tai ít nhất một lần trong năm đầu đời

2. Các dấu hiệu nhiễm trùng tai của trẻ bao gồm?

Các dấu hiệu nhiễm trùng tuy không quá nhiều như dễ nhận biết ở trẻ như:

  • Tai đau, sưng đỏ, nghe tiếng lùng bùng ở tai.

  • Xuất hiện dịch tiết (nước, mủ,…) chảy ra từ tai, thường kèm theo mùi hôi khó chịu hoặc không.

  • Thường xuyên dùng tay sờ lên tai, ngoáy tai,…

  • Sốt (thường kèm theo mệt mỏi, buồn nôn, nôn,…).

  • Khó chịu, quấy khóc, bỏ bú, chán ăn, khó ngủ,…

Hầu hết các trường hợp nhiễm trùng tai thường được phát hiện sớm do các dấu hiệu dễ nhận biết. Nhưng nếu tiến triển bệnh kéo dài đến giai đoạn nghiêm trọng hơn, trẻ có thể suy giảm hoặc mất thính giác tạm thời, thậm chí là vĩnh viễn.

Tình trạng viêm nhiễm khiến trẻ thường xuyên quấy khóc, không chịu ăn,…

Chi tiết thông tin cho Cảnh giác với những dấu hiệu nhiễm trùng tai ở trẻ ngay từ sớm…

Nhiễm trùng máu là gì?

Nhiễm trùng máu (hay nhiễm trùng huyết, sốc nhiễm trùng huyết, hội chứng rối loạn chức năng đa cơ quan) là những tập hợp bệnh lý xảy ra khi vi trùng xâm nhập vào cơ thể, tiết ra chất độc dẫn đến suy đa cơ quan, rối loạn đông máu hoặc suy gan, suy thận

Khi nhắc đến nhiễm trùng máu, người ta thường đề cập đến các thuật ngữ như Septicaemia và Sepsis, cho đến nay, các khái niệm này vẫn thường bị nhầm lẫn:

  • Septicaemia: Thuật ngữ Septicaemia dùng để chỉ tình trạng nhiễm trùng máu do vi khuẩn gây ra. Khi được chẩn đoán Septicaemia, nghĩa là trong máu bệnh nhân đã có sự tăng trưởng của vi khuẩn.
  • Sepsis: Sepsis là tình trạng nhiễm trùng máu do vi khuẩn, virus, nấm gây ra, phạm vi không chỉ trong máu mà còn ở nhiều cơ quan khác trong cơ thể. Khi được chẩn đoán Sepsis nghĩa là bệnh nhân có ổ nhiễm trùng và xuất hiện hội chứng đáp ứng viêm toàn thân (SIRS).
  • Severe Sepsis: Là tình trạng nhiễm trùng máu nặng, nhiễm trùng máu kèm rối loạn chức năng cơ quan, giảm tưới máu và hạ huyết áp, rối loạn phân bổ máu, thiểu niệu hoặc thay đổi đột ngột tình trạng ý thức và các rối loạn khác.
  • Septic Shock: Là tình trạng sốc nhiễm khuẩn. Bệnh nhân khi đã chuyển sang giai đoạn sốc nhiễm khuẩn thường đã nhiễm khuẩn máu rất nặng, tụt huyết áp mặc dù đã bù đủ dịch, kèm theo bất thường tưới máu.

Lưu ý: Thuật ngữ septicaemia trước đây được dùng để chỉ tình trạng nhiễm trùng có bằng chứng về sự sinh trưởng mạnh của vi khuẩn trong máu, thường hay được hiểu như là sepsis. Hiện nay, các bác sĩ và nhân viên y tế không còn sử dụng thuật ngữ Septicemia rộng rãi nhằm loại bỏ sự nhầm lẫn với các thuật ngữ tương tự.

Nguyên nhân nhiễm khuẩn huyết

Theo bác sĩ Bạch Thị Chính, Giám đốc Y khoa Hệ thống tiêm chủng Trẻ em và người lớn, khi xác định tình trạng nhiễm khuẩn huyết, bác sĩ sẽ xác định “ngõ vào” của vi khuẩn là ở da, hệ hô hấp, hệ tiêu hóa hay tiết niệu Nhiễm khuẩn huyết chủ yếu gây ra do vi khuẩn xâm nhập trực tiếp vào máu hoặc từ các ổ nhiễm khuẩn ở các mô tế bào, những cơ quan như: da, mô mềm, cơ, xương, khớp, hô hấp, tiêu hóa…

Nhiễm trùng huyết cấp tính có nguyên nhân từ vi khuẩn lưu hành trong máu; chúng gây ra các triệu chứng lâm sàng đa dạng, làm suy đa phủ tạng, sốc nhiễm khuẩn với tỉ lệ tử vong rất cao có thể từ 20 – 50% các trường hợp.

Nhiễm trùng huyết có thể xuất phát từ các ổ nhiễm trùng bất kỳ trên cơ thể

Trên thực tế, có một số yếu tố nguy cơ dễ dẫn đến bệnh lý nhiễm trùng máu bao gồm: người cao tuổi, trẻ sơ sinh, trẻ sinh non; người có sử dụng thuốc ức chế miễn dịch, thuốc corticoid kéo dài, thuốc chống thải ghép, đang điều trị hóa chất và tia xạ; người có bệnh mãn tính như: đái tháo đường, nhiễm HIV/AIDS, xơ gan, bệnh van tim và tim bẩm sinh, bệnh phổi mạn tính, suy thận mạn tính; người bệnh đã cắt lách, nghiện rượu, có bệnh máu ác tính, giảm bạch cầu hạt; bệnh nhân có sử dụng các thiết bị hoặc dụng cụ xâm nhập cơ thể nhưng đóng đinh nội tủy, đặt ống dẫn truyền, đặt ống nội khí quản…

Viêm phổi, nhiễm trùng ổ bụng, u nhọt, du khuẩn huyết, nhiễm trùng thần kinh trung ương.. cũng là nguyên nhân khởi phát gây nhiễm trùng máu. Ngoài ra, nhiễm trùng máu còn gây ra do:

Nhiễm trùng da

Nhiễm trùng da là bệnh lý gây ra bởi các sinh vật ngoài cơ thể, bao gồm cả nhiễm trùng do mạt nhà và nhiễm trùng do côn trùng. Nhiễm trùng da lâu ngày không điều trị là nguyên nhân gây ra nhiễm khuẩn huyết.

Nhiễm trùng đường tiết niệu

Biến chứng nhiễm khuẩn huyết do nhiễm trùng đường tiết niệu có tên tiếng Anh là Urosepsis. Có đến 25% bệnh nhân bị nhiễm trùng huyết gây ra do nhiễm trùng đường tiết niệu.

Bằng nhiều cách khác nhau như quan hệ tình dục không an toàn, vệ sinh cá nhân không sạch sẽ, vi khuẩn xâm nhập vào niệu đạo (ống dẫn nước tiểu đi ra ngoài cơ thể), gây viêm nhiễm dẫn đến nhiễm trùng đường tiết niệu. Các vi khuẩn khi đã vào niệu đạo sẽ nhân lên nhiều lần và lan qua bàng quang cùng nhiều bộ phận khác, sau đó đi vào máu và gây ra biến chứng nhiễm khuẩn huyết toàn thân.

Nhiễm trùng đường tiêu hóa

Nhiễm trùng đường tiêu hóa là bệnh lây chủ yếu qua đường ăn uống, khi ăn phải thực phẩm hoặc nguồn nước chứa vi sinh vật gây bệnh. Các sinh vật bao gồm nấm men, vi khuẩn hoặc ký sinh trùng là nguyên nhân chính gây nhiễm trùng đường tiêu hóa, một trong những nguyên nhân gây nhiễm trùng máu.

Chi tiết thông tin cho Nhiễm trùng máu (nhiễm khuẩn huyết): Nguyên nhân, dấu hiệu, điều trị và phòng ngừa…

.

Ngoài xem những thông tin về chủ đề Dấu Hiệu Nhiễm Trùng này. Bạn có thể xem thêm nhiều chủ đề liên quan đến dược liệu khác như Tra cứu dược liệu

Vậy là chúng tôi đã cập nhật những thông tin mới nhất nhất, được đánh giá cao nhất về Dấu Hiệu Nhiễm Trùng trong thời gian qua, hy vọng những thông tin này hữu ích cho bạn.

Cảm ơn bạn đã ghé thăm. Bạn có thể vào mục các loại nhang thờ cúng từ những thảo dược liệu quý được kết tinh thành.

Có thể bạn quan tâm:  Chỉ Tiêu Hóa Lý Của Tinh Dầu - Trang thông tin dược liệu cho mọi nhà

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button