Cau

Tên tiếng Việt: Cau, Binh lang, Tân lang, Mạy làng (Tày), Pơ lạng (Kho)

Tên khoa học: Areca catechu L.

Họ: Arecaceae

Công dụng: Thuốc tẩy sán, cầm máu (Hạt). Chữa sốt rét, bụng trướng (Vỏ quả, rễ). Hạt, vỏ và rễ làm thuốc kích thích tiêu hoá, viêm ruột, trốc đầu, ỉa chảy, kiết lỵ, phù thũng, cước khí, bí đái.

Cây Cau

Hình ảnh: Cây cau

A. Mô tả cây

Cây cau là một cây có thân mọc thẳng đứng cao chừng 15-20m, đường kính 10-15cm. Toàn thân không có lá mà có nhiều vết lá cũ mọc, chỉ ở ngọn có một chùm lá to rộng xẻ lông chim. Lá có bẹ to. Mo ở bông mo sớm rụng. Trong cụm hoa hoa đực ở trên, hoa cái ở dưới. Hoa đực nhỏ màu trắng, 6 nhị. Hoa cái to, bao hoa không phân hóa. Noãn sào thượng 3 ô. Quả hạch hình trứng to bằng quả trứng gà. Quả bì có sợi, hạt có nội nhũ xếp cuốn. Hạt hơi hình nón cụt, đầu tròn giữa đáy hơi lõm, màu nâu nhạt, vị chát.

Có thể bạn quan tâm:  Kim ngân

B. Phân bố, trồng hái

  • Được trồng ở khắp nơi trong nước ta để lấy quả trầu và xuất cảng.Trồng bằng quả thường sau 5-6 năm mới thu hoạch
  • Người ta phân biệt cau rừng (sơn binh lang) và cau nhà (gia binh lang). Cau rừng hạt nhỏ, nhọn và chắc hơn. Loại sơn binh lang có nhiều ở Nghệ Tĩnh và Thanh hóa
  • Trước đây (vào năm 1930) diện tích trồng cau ước lượng chừng 2500 hecta ở miền Mắc việt nam chủ yếu là Hải hưng sau đến Kiến an, Quảng Ninh và cuối cùng đến Nam hà, Thái bình. Tại miền Trung, diện tích trồng trước đây ước chừng 1.400hecta. Tại miền Nam Việt nam, nhân dân cũng trồng nhiều ở Mỹ Tho, Bến Tre, Rạch Giá, Cần thơ

C. Thành phần hóa học

  • Trong hạt có tanin. Tỷ lệ tanin trong hạt non chừng 70% nhưng khi chín chỉ còn 15 -20%
  • Ngoài ra còn chất mỡ (14%) với thành phần chủ yếu gồm: myristin 1/5, olein ¼ laurin ½ các chất đường: sacaroza, manan, galactan 2% và muối vô cơ
  • Hoạt chất chính là 4 ancaloit: arecolin, arecaidin C7H11NO2, guvaxin C6H9NO2 và guvacolin C7H11NO2, Arecolin (hay CH, arecaidin) C8H13NO2 chiếm chừng 0,1-5%
Có thể bạn quan tâm:  Dâm dương hoắc

D. Tác dụng dược lý

1. Tác dụng của arecolin gần giống các chất petitierin, pilocacpin và muscarin

  • Arecolin gây chảy nước bọt rất nhiều. Nó còn làm tăng bài tiết dịch vị, dịch tràng và làm co nhỏ đồng tử
  • Dung dịch 1% Arecolin bromhydrat làm co nhỏ đồng tử sau khi nhỏ từ 3-5 phút. Sự co nhỏ đồng tử kéo dài tử ½ giờ đến 2 giờ. Có thể dùng làm giảm áp nhãn trong bệnh glocom.
  • Arecolin còn làm tim đập chậm trừ khi có mặt của canxi, tăng nhu động ruột, liều nhỏ kích thích thần kinh, liều lớn gây liệt thần kinh.

2. Dung dịch hạt cau có tác dụng độc đối với thần kinh của sán, làm cho tê bại các cơ trơn của sán, 20 phút sau khi thuốc vào tới ruột, con sán bị tê liệt và không bám vào thành ruột được nữa.

Có thể bạn quan tâm:  Hoa dài

E. Công dụng và liều dùng

  1. Hạt cau thường được dùng làm thuốc chữa giun sán cho súc vật như chó với liều 4g. Nếu dùng arecolin bromhydrat người ta dùng liều 0,5-1mg
  2. Dùng chữa sán cho người: phối hợp với hạt bí ngô (xem vị hạt bí ngô)
  3. Làm thuốc giúp sự tiêu hóa, chữa viêm ruột, lỵ. Dùng hạt cau khô, mỗi ngày 0,5- 4g.
  4. Chữa trẻ con chốc đầu: Mài hạt cau thành bột phơi khô hòa với dầu mà bôi. Cần theo dõi vì có độc

Nhân dân còn dùng hạt cau phối hợp với thường sơn, thảo quả chữa sốt rét trong đơn thuốc: Thường sơn triệt ngược.

Chú thích

  1. Người ta còn dùng vỏ quả cau làm thuốc lợi tiểu với tên đại phúc bì (xem vị này ở mọc các cây thuốc thông tiểu tiện).
  2. Cây cau rừng (sơn bình lang) có tên khoa học Areca laoensis L cùng họ, với cùng một công dụng. Một cây cau rừng khác có tên khoa học Pinanga baviensis O. Becc cùng họ, ít dùng.
Có thể bạn quan tâm:  Tô hạp hương